Nhìn chung, lý thuyết về hành động hợp lý bao gồm hành vi, ý định thực hiện hành vi, thái độ, chuẩn mực chủ quan và các biến số bên ngoài. Những yếu tố này đóng một vai trò quan trọng khi nhận ra sức mạnh của thái độ đối với hành vi. b) Giáo dục phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và tác phong công nghiệp cho người học thông qua quá trình giảng dạy; c) Đánh giá kết quả học tập, kết quả thi tốt nghiệp của người học; d) Hoàn thiện các biểu mẫu, sổ sách quản lý lớp học được bố trí, phân công giảng dạy theo quy định; Bộ phim Vẻ Đẹp Đích Thực thuộc thể loại Tình Cảm, phim được dàn dựng tại Hàn Quốc. Phim Hàn Quốc Vẻ Đẹp Đích Thực 2020: Bộ phim tập trung xoay quanh một cô gái tên Lim Joo Kyung vốn có nhan sắc bình thường nhưng cố trang điểm lộng lẫy để trở thành hiện tượng mạng và được mọi người yêu mến. Tổng hợp lý thuyết bao gồm những nội dung sau: + Bổ sung tài liệu, sau khi phân tích phát hiện thiếu hoặc sai lệch. + Lựa chọn tài liệu chỉ chọn những thứ cần, đủ để xây dựng luận cứ. + Sắp xếp tài liệu theo lịch đại (theo tiến trình xuất hiện sự kiện để nhận dạng động thái); sắp xếp tài liệu theo quan hệ nhân - quả để nhận dạng tương tác. Mục lục Lời nói đầu 1 Nội dung 2 I. Lý luận chung về thuyết quản lý gắn với quyền lực của Max Weber 2 1. Max Weber và sự ra đời của học thuyết Max Weber 2 2. Thể chế quản lý hành chính lý tưởng - thể chế quan liêu 3 3. Quản lý gắn với quyền lực 5 II. bJzs. Download Free PDFDownload Free PDFHoá phân tích - Lý thuyết và thực hànhHoá phân tích - Lý thuyết và thực hànhHoá phân tích - Lý thuyết và thực hànhHoá phân tích - Lý thuyết và thực hànhThanh Nhã Nguyễn Đang tải.... xem toàn văn Thông tin tài liệu Ngày đăng 04/06/2015, 0955 Từ xưa đến nay, mỗi quan hệ giữa lí thuyết và thực hành trở thành quan tâm của mọi người. Xuất phát từ thực tế của một nền kinh tế chậm triển trước kia, ông cha ta nói Trăm hay không bằng tay tục ngữ trên nhằm đề cao vai trò của thực hành quan trọng hơn lý thuyết. Vậy nội dung ấy đúng hay sai? Ngày nay ta cần hiểu quan niệm như thế nào cho hợp lí? Nghị luận xã hội về lý thuyết và thực hành Từ xưa đến nay, mỗi quan hệ giữa lí thuyết và thực hành trở thành quan tâm của mọi người. Xuất phát từ thực tế của một nền kinh tế chậm triển trước kia, ông cha ta nói "Trăm hay không bằng tay quen''. Câu tục ngữ trên nhằm đề cao vai trò của thực hành quan trọng hơn lý thuyết. Vậy nội dung ấy đúng hay sai? Ngày nay ta cần hiểu quan niệm như thế nào cho hợp lí? Câu tục ngữ có hai vế "Trăm hay" là cách nói mộc mạc, có nghĩa là biết hàng trăm điều tức là biết nhiều, lí thuyết giỏi. Còn "tay quen" có nghĩa là thaọ việc, làm thuần thục, nói cách khác là thực hành giỏi, thành thạo công việc. Như vậy, câu tục ngữ "Trăm hay không bằng tay quen" muốn khẳng định biết lí thuyết nhiều cũng không thể bằng thói quen thành thạo công việc. Nếu lấy chất lượng, số lượng sản phẩm được làm ra để làm thước đo năng lực, để đánh giá người lao động thì ý nghĩa câu tục ngữ trên là đúng. Bởi thực hành mới trực tiếp sản xuất ra hàng hoá, mới làm ra của cài vật chất. Và tất nhiên phải quen tay mới thuần thục công việc cho nên người lao động, công nhân mới làm ra những sản phẩm có chất lượng và có số lựợng cao. Trong thực tế, đã có biết bao người hiểu rộng, biết nhiều lí thuyết nhưng khi bắt tay vào thực hành lại lúng túng, dẫn đến thất bại. Ngược lại, có những người không được học hành, không được đào tạo ở một trường lớp nào cả, nhưng với những thực tế lao động, từ những kinh nghiệm trong quá trình rèn luyện được tích luỹ họ trở thành người có tay nghề giỏi. Đó là những người thợ máy lâu năm, những thợ thủ công lành nghề theo kiểu cha truyền con nối nên họ có tay nghề cao, làm việc có hiệu quả ít ai sánh được. Vì lẽ đó mà cha ông ta đã định vai trò quan trọng của thực hành trong đời sống hàng ngày. Đồng thời qua đó ông cha ta cũng có thái độ trân trọng, đề cao người lao động trực làm ra của cải vật chất cho xã hội tiêu dùng. Đối với một nước nông nghiệp lạc hậu thì nội dung câu tục ngữ trên có thế chấp nhận. Tuy nhiên, bên cạnh điều chấp nhận đó, ta cũng thấy rõ mặt chưa đúng của câu tục ngữ. Bởi lẽ, thói quen kinh nghiệm, thành thạo công việc dù có quan trọng như thế nào cũng không phải là tất cả. Muốn tinh thông nghề nghiệp thì ngoài "quen tay" còn phải có "trăm hay" mới được. Nếu như chỉ "quen tay” thành thạo việc thì người thợ thủ công không thể chuyển công việc của sang sản xuất bằng máy móc để có năng suất cao được. Như vậy tư tưởng “trăm hay không bằng tay quen" không chỉ thể hiện qua việc coi thường học vấn coi thường khoa học mà còn thể hiện tư tưởng tự mãn với thói quen sẵn có của mình; đồng thời nó cũng biểu hiện một khuynh hướng bảo thủ. Bởi vì thành quả của "tay quen" ấy, con người không dễ gì chịu tiếp thu tư tưởng mới, kĩ thuật mới bao giờ. Đó là một trơ ngại cho sự tiến bộ, cho thời đại Khoa học kĩ thuật và kinh tế tri thức. Ngày nay trong thời đại khoa học kĩ thuật đang phát triển mạnh thì sự hiểu tri thức, "trăm hay" của con người rất là cần thiết. Bởi có "thực hành" nào không cần đến "lí thuyết" đâu. Có nắm vững lí thuyết ta mới thực hành dễ và đạt kết quả cao. Lí thuyết chỉ đạo cho thực hành, và thực hành là để nghiệm lại, bổ sung và nâng cao hoàn thiện cho lí thuyết. Lí thuyết giỏi với thành thạo việc sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn. Vì vậy ta không nên xem nhẹ bất cứ một mặt nào mà phải kết hợp tác hai chiều giữa lí thuyết và thực hành. Ta cũng nên hiểu rằng có học mà người thực hành chỉ là lí thuyết suông. Thực hành mà không biết lí thuyết thì việc gì cũng gặp khó khăn. Do đó ta mới đánh giá đúng mức mỗi liên quan giữa lí thuyết và thực hành. Tóm lại, câu tục ngữ "Trăm hay không bằng tay quen" tuy có đề cao vai trò của kĩ năng thực hành, đề cao năng lực thành thạo công việc thì đó cũng là khía cạnh rất có ý nghĩa trong việc đào tạo người lao động mới. Và đế đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh chóng của xã hội ngày nay, ta thấy phương châm "Học phải đi đôi với hành", "trăm tay" đi liền với "tay quen" là đúng đắn và phù hợp nhất. Hiểu và thực hiện tốt được điều này không những ta góp phần đổi mới cuộc sống mà ta còn phát huy tính sáng tạo ngày càng cao để phục vụ đời sống con người, đưa đất nước tiến vào hội nhập và phát triển cùng thế giới. . Nghị luận xã hội về lý thuyết và thực hành Từ xưa đến nay, mỗi quan hệ giữa lí thuyết và thực hành trở thành quan tâm của mọi người. Xuất phát từ thực tế của một nền kinh. Bởi có " ;thực hành& quot; nào không cần đến "lí thuyết& quot; đâu. Có nắm vững lí thuyết ta mới thực hành dễ và đạt kết quả cao. Lí thuyết chỉ đạo cho thực hành, và thực hành là để nghiệm. phải kết hợp tác hai chiều giữa lí thuyết và thực hành. Ta cũng nên hiểu rằng có học mà người thực hành chỉ là lí thuyết suông. Thực hành mà không biết lí thuyết thì việc gì cũng gặp khó khăn. - Xem thêm -Xem thêm Nghị luận xã hội về lý thuyết và thực hành, Nghị luận xã hội về lý thuyết và thực hành, Từ khóa liên quan nghị luận xã hội về ý chí và nghị lực sống nghị luận xã hội về lý tưởng nghị luận xã hội về lý tưởng sống nghị luận xã hội về cá nhân và tập thể nghị luận xã hội về cảm ơn và xin lỗi dàn ý nghị luận xã hội về lý tưởng sống nghị luận xã hội về văn học và tình thương nghi luan xa hoi ve tien bac va hanh phuc nghi luan xa hoi ve tien tai va hanh phuc van nghi luan xa hoi ve trang phuc va van hoa nghị luận xã hội về lý tưởng của thanh niên nghi luan xa hoi ve moi truong va ve an toan giao thong nghị luận xã hội về tiền bạc và tầm quan trọng của đồng tiền nghi luan xa hoi ve ly tuong song cua thanh nien thoi dai hien nay nghị luận xã hội về tuổi tre và tuong lai xác định các nguyên tắc biên soạn khảo sát các chuẩn giảng dạy tiếng nhật từ góc độ lí thuyết và thực tiễn khảo sát chương trình đào tạo của các đơn vị đào tạo tại nhật bản xác định thời lượng học về mặt lí thuyết và thực tế điều tra đối với đối tượng giảng viên và đối tượng quản lí nội dung cụ thể cho từng kĩ năng ở từng cấp độ mở máy động cơ lồng sóc phần 3 giới thiệu nguyên liệu từ bảng 3 1 ta thấy ngoài hai thành phần chủ yếu và chiếm tỷ lệ cao nhất là tinh bột và cacbonhydrat trong hạt gạo tẻ còn chứa đường cellulose hemicellulose chỉ tiêu chất lượng 9 tr 25 Lý thuyết vs thực hành Bạn biết rằng bạn không chỉ nên tha thứ cho những người đã phạm tội chống lại bạn, mà bạn còn phải được hòa giải đối với họ. Việc giảng dạy những khái niệm này là quá tốt, nhưng người ta biết khó khăn như thế nào khi đứng trước một người đã làm tổn thương chúng ta hoặc xúc phạm chúng ta trong quá khứ. Trong các lớp học của chúng tôi, chúng tôi học được nhiều lý thuyết về khoa học và kinh tế, nhưng trong thực tế, chúng tôi thấy rằng nhiều lý thuyết này không giữ được nước. Điều này là do các giả định không tồn tại trong cuộc sống thực. Các chương trình giảng dạy trong hệ thống giáo dục của chúng tôi được phát minh theo cách mà chúng chứa một lý thuyết cũng như một phần thực hành. Điều này được thực hiện có chủ ý để mở đường cho sự hiểu biết sâu sắc hơn về các khái niệm. Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn về sự khác biệt giữa lý thuyết và thực hành. Học thuyết Có hai cách để khiến học sinh học và hiểu một khái niệm. Một là cách trừu tượng trong đó môn học được dạy dưới dạng văn bản và hình ảnh và tìm cách làm rõ cho học sinh thông qua các bài giảng trên lớp do giáo viên đưa ra. Sách giáo khoa của chúng tôi trong các trường học là xương sống của hệ thống lý thuyết này. Người ta tin rằng hầu hết việc học của chúng ta đều thông qua hệ thống giáo dục lý thuyết này. Các thuộc tính của vật thể và vật chất và cách chúng tương tác với nhau được viết và mô tả trong các danh mục để làm cho học sinh nắm bắt chúng theo cách tốt hơn. Các môn học như lịch sử luôn có thể được trình bày dưới dạng lý thuyết hoặc văn bản vì không có cách nào chuyển đổi chúng thành thực tiễn mặc dù ngày nay có những phương tiện trực quan có thể được sử dụng để làm cho sinh viên thậm chí nhìn thấy lịch sử và địa lý. Tuy nhiên, hiện tượng tự nhiên, lý do, nguyên nhân và mối tương quan của chúng luôn được tìm cách trình bày dưới dạng văn bản để học sinh giữ chúng trong một thời gian dài. Tất nhiên, một sinh viên y khoa có thể hiểu một căn bệnh theo cách tốt hơn nhiều khi cho thấy một người mắc bệnh, nhưng anh ta vẫn được tạo ra để tìm hiểu các triệu chứng theo cách lý thuyết để có thể chẩn đoán tốt hơn giữa hai bệnh tương tự. Thực hành Trong tất cả các hệ thống giáo dục, có một phương pháp giảng dạy dựa trên thực tiễn. Đây là một phần của giáo dục được mô tả tốt nhất thông qua các khóa học nghề và chứng chỉ và bằng cấp mà mọi người có được trong các ngành nghề làm tóc, ống nước, mộc, nấu ăn, sửa chữa điện tử, điều hòa không khí, vv Trong hầu hết các ngành nghề này, có một phần lý thuyết trong đó cố gắng trình bày vấn đề dưới dạng viên nang. Tuy nhiên, lý thuyết này được sử dụng bởi các sinh viên, để viết ra các bài kiểm tra để đạt điểm cao trong khi thực hành là kinh nghiệm đầu tiên về những gì họ phải làm trong cuộc sống thực sau khi rời khỏi lớp học. Một luật sư có thể trải qua rất nhiều lớp học dựa trên lý thuyết, nhưng trong cuộc sống thực, khi anh ta bắt đầu hành nghề, anh ta luôn phụ thuộc vào sự nhạy bén và bằng chứng hiện tại của mình. Sự khác biệt giữa Lý thuyết và Thực hành là gì?? • Thật quá dễ dàng để giải thích các khái niệm về khát, đau và buồn trong lý thuyết, nhưng người đó nhận ra sự khác biệt chỉ khi anh ta trải qua những trải nghiệm này trong cuộc sống thực.. • Về lý thuyết, nhiều giả định được đưa ra để giải thích hiện tượng và khái niệm trong khi trong cuộc sống thực, không có giả định và điều kiện nào luôn là duy nhất • Hầu hết các môn học bao gồm một lý thuyết cũng như phần thực hành, nhưng có một số khóa học có tính chất nghề nghiệp và cần được dạy thông qua thực hành tay đầu tiên. • Tuy nhiên, ngay cả sinh viên y khoa cũng phải học lý thuyết và triệu chứng của bệnh khi họ có thể được dạy hoàn toàn thông qua thực hành. • Sự phân đôi giữa lý thuyết và thực hành sẽ vẫn còn vì hai điều này tạo thành xương sống của tất cả các thủ tục học tập. Đối với khoa học, thì người ta dùng thí nghiệm và thực nghiệm, để chứng minh cho lý thuyết của mình là đúng. Còn về việc tu tập rèn luyện để có tư tưởng, thì người ta phải cần có kinh nghiệm và trãi nghiệm, trong cuộc đấu tranh với cuộc đời của chính mình. Vì kinh nghiệm là bài học được rút ra từ ý thức, và nó sẽ tạo ra kỷ năng tay nghề chuẩn xác cho chúng ta trong lao động. Còn trãi nghiệm là những thắng lợi về tinh thần, thông qua những đau khổ đắng cay trong tình cảm, tình yêu của mình. Chắc ai cũng biết giữa lý thuyết và thực hành, đều có một khoảng cách nhất định. Và cái “khoảng cách” đó là rất dài rất xa, vì nó là vô hình mà. Đó chính là “khoảng cách” giữa hai hàng chữ trên trang sách, mà chúng ta đọc mỗi ngày. Nếu ai đọc được những hàng chữ vô hình ghi ở chỗ đó, thì mới nhìn thấy được cái “khoảng cách” giữa lý thuyết và thực hành như thế nào. Lý thuyết luôn luôn có một “khoảng cách” với thực hành, dài ngắn khác nhau, là tùy vào nhận thức của mỗi người, chứ không phải lý thuyết là khác với thực hành. Vì nếu bạn thấy nó giống với thực hành là sai, mà bạn lại thấy nó khác với thực hành, thì cũng là sai luôn. Tuy nhiên nếu không có lý thuyết định hướng trước, thì thực hành sẽ không biết sẽ đi về đâu và làm gì. Nhưng khi chúng ta thực hành y chang với lý thuyết, thì sẽ không thể thấy được cái “khoảng cách” đó. Và nếu chúng ta học và làm như thế, thì sự học tập lý thuyết, và công việc lao động thực hành của chúng ta, sẽ không có kết quả cao hoặc là sẽ thất bại thôi. Vì phải học tập và nắm vững lý thuyết rồi mới thực hành, thì mới có kết quả tốt được. Vì giữa lý thuyết và thực hành, luôn có một “khoảng cách” để đối chiếu và so sánh, kiểm chứng lẫn nhau, thì chúng ta mới hiểu đúng và làm đúng, trong những yêu cầu thực tế của công việc. Bởi vì trong lý thuyết chúng ta rất khó nhận ra chử “thời”. Vì cũng việc đó mà chúng ta làm trong trường hợp này thì đúng, nhưng làm trong trường hợp khác là sai. Vì chử “thời” này là rất quan trọng. Vì nó không thể ghi ra văn bản được, mà nó chính là trãi nghiệm và kinh nghiệm của mỗi cá nhân con người chúng ta, thông qua việc thực hành lao động của chính mình. Vậy chúng ta có thể nói rằng, “khoảng cách” giữa lý thuyết và thực hành, đó chính là chữ “thời” vậy. Và chữ “thời” này chỉ có thể sinh ra ở giữa hai chữ “kinh nghiệm và trãi nghiệm” mà thôi. Vì người có kinh nghiệm sống từng trãi trong cuộc đời, đôi khi không học hành gì cả nhưng lại thành công rất lớn. Ngược lại những học giả, những con nghiện sách vở cứ sống mãi trong các tinh cầu lạnh giá, thì làm cái gì cũng thất cơ lỡ vận hết trơn. Vậy hiểu được chữ “thời” là nắm được cơ hội thành công. Tuy nhiên muốn có được điều đó, thì chúng ta phải sống thật mạnh mẽ, và phải giỏi về lý luận cũng như thực hành lao động liên tục, miệt mài không ngừng nghỉ. Đối với khoa học, thì người ta dùng thí nghiệm và thực nghiệm, để chứng minh cho lý thuyết của mình là đúng. Còn về việc tu tập rèn luyện để có tư tưởng, thì người ta phải cần có kinh nghiệm và trãi nghiệm, trong cuộc đấu tranh với cuộc đời của chính mình. Vì kinh nghiệm là bài học được rút ra từ ý thức, và nó sẽ tạo ra kỷ năng tay nghề chuẩn xác cho chúng ta trong lao động. Còn trãi nghiệm là những thắng lợi về tinh thần, thông qua những đau khổ đắng cay trong tình cảm, tình yêu của mình. Và nếu bạn có lý thuyết rồi, mà thực hành và có được kinh nghiệm và trãi nghiệm tốt, thì bạn sẽ biết được lý thuyết đó đúng hay là sai liền. Vì nếu lý thuyết nào phản khoa học và trái tự nhiên, thì lý thuyết đó là sai. Vì làm việc có khoa học thì bạn mới có kinh nghiệm được, cũng như khi bạn làm điều đó, trong một tinh thần hứng thú đam mê rất tự nhiên, thì mới có kết quả cao chứ. Và điều đó chứng tỏ rằng công việc của bạn làm rất khoa học, và phù hợp với tự nhiên, vì bạn đã áp dụng đúng lý thuyết rồi. Do đó học đi đôi với hành, là rất cần thiết cho sự thành bại của đời người. Vì chính hai điều này thông qua việc học tập và lao động đúng hướng, thì nó sẽ phát sinh trí tuệ và gầy dựng hành trình đạo đức hướng thiện cho chúng ta. Vì thật sự khi bạn đối diện với cuộc đời là vô hình mù mịt, nhưng khi bạn có tin yêu và học tập lao động miệt mài, thì cái màn đêm vô hình mù mịt kia, dần dần sẽ được khai sáng. Vì bạn phải có đạo đức trong công việc, trong nghề nghiệp, thì bạn mới có đạo đức với con người được. Vì rằng công việc bạn làm phải thõa mãn cho bạn, và cho cả đối tác nữa thì mới gọi là làm tốt được. Và chính điều đó không biết sẽ thu lợi được bao nhiêu, nhưng nó đã không làm bạn hối tiếc hay ân hận cắn rức gì là được rồi. Và thông qua việc học tập và lao động phấn đấu của mình, mà đã tạo ra tâm thế vững chắc như một cây cao, có gốc rễ mạnh mẽ chịu đựng được tất cả song gió của cuộc đời, thì đó là bạn đã thành công và hạnh phúc rồi. Vì thành công và hạnh phúc là có ngay đây trong hiện tại này, mà bạn chỉ cần bước đến cầm lấy nó lên thôi. Vì bên trong con người chúng ta, ai cũng có một trữ lượng hạnh phúc rất lớn, nhưng chỉ có điều là chúng ta không biết đó thôi, nên chúng ta mới đau khổ quá chừng. Và vấn đề là mỗi bước đi của chúng ta đến thành công và hạnh phúc, thì phải luôn học tập và thực hành lao động miệt mài không ngơi nghỉ. Vậy thông qua học tập lý thuyết và thực hành đúng đắn, thì nó sẽ đem lại cho chúng ta sự hiểu biết đúng đắn, với các hệ giá trị đích thực trên đời này, một cách không ảo tưởng hoang đường như trong mơ. Và thông qua đó chúng ta cũng rút ra được thái độ sống hòa hợp với mọi người, với môi trường làm việc của mình trong xã hội… Vậy thông qua lý thuyết và thực hành, sẽ giúp cho chúng ta nhìn thấy mình trong tha nhân, và cũng nhìn thấy thiên hạ có trong trái tim mình. Và chính điều này đã cho chúng ta thấy được cảm nhận của người khác, nên chúng ta có khả năng cảm thông với nhau hơn. Còn những kẻ chỉ biết có mình, mà chẳng hề quan tâm đến cảm giác của người khác, thì tất nhiên trong việc học và thực hành của bạn đã sai rồi. Vì bạn được gọi là “thắng lợi” thì bao giờ bạn cũng có tư duy mở, và một tấm chân tình vị tha rộng lượng. Vì chính điều đó là dấu hiệu cho thấy rằng bạn đang phát triển không ngừng, chứ không phải là sắp bế tắc. Ngược lại bạn làm gì không biết, nhưng bạn sống trong đau khổ ích kỷ quá, thì bạn đã thất bại rồi. Vì chỉ có mình mới có khả năng đem lại hạnh phúc hay khổ đau cho chính mình mà thôi. Vì sự nghiệp lớn nhất trên đời này, là cải tạo đời sống và thay đổi con người mình, để tiến đến sống trong một môi trường sống đầy đủ và hạnh phúc như ý. Vậy cái “khoảng cách” giữa lý thuyết và thực hành là gì? Đó chính là cái “khoảng nối” giữa tâm và vật, giữa khoa học và tự nhiên. Do đó bây giờ chúng ta cần đi sâu vào tìm hiểu hai cái “khoảng nối” đó là như thế nào. Vậy cái “khoảng nối” giữa tâm và vật của chúng ta có gì? Đó chính là sự nhận thức sai lệch của tâm, đối với sự vật về thật tánh của nó. Vì nếu bạn chỉ quan sát sự vật bên ngoài thôi, thì bạn sẽ thấy nó rất đơn giản như một vật đứng yên, vô tri vô giác được gọi là vật chất, và có tính đơn chất thôi. Nhưng khi chúng ta nhìn sâu vào thực thể của nó, thì chúng ta sẽ thấy nó được tạo ra bởi rất nhiều chất khác nhau. Và đó chính là con đường khám phá vật chất của khoa học. Và vì nó do nhiều chất kết hợp lại mà thành, nên nó sẽ không đứng yên như chúng ta vẫn tưởng, theo quan sát hàng ngày của chúng ta đâu. Do đó cái “khoảng nối” giữa tâm và vật chính là thật tánh của các pháp. Và khi chúng ta học lý thuyết thì sao. Vì lý thuyết là như thế, nhưng khi chúng ta áp dụng thì nó sẽ tùy thuộc vào từng cấp độ, nhận thức cao thấp khác nhau của mỗi người, nhận thức về nó như thế nào. Do đó khi cùng học một trường, và ra trường làm cùng một công việc như nhau, nhưng thành quả đạt được của mỗi người là luôn khác nhau. Vì nếu như ai nắm được cái căn bản yếu tính cốt lõi của lý thuyết, thì sẽ biết vận dụng lý thuyết đó một cách linh hoạt và chính xác hơn. Vì đơn giản lý thuyết chỉ là phương tiện để cải tạo đời sống mà thôi. Thì nó chính là phương tiện lớn nhất, để tạo ra rất nhiều phương tiện mới khác nữa, để ứng dụng vào việc khai thác vật chất có lợi cho ta. Còn nếu bạn chỉ hiểu một cách hình thức, thông qua các khái niệm chỉ dẫn của lý thuyết thôi, thì bạn sẽ không biết cách biến hóa, để áp dụng trong cuộc chiến đấu của mình, và do đó chắc chắn thành công của bạn cũng sẽ rất hạn chế vậy. Còn “khoảng cách” giữa khoa học và tự nhiên là gì? Đó chính là cái “khoảng nối” giữa các pháp hữu vi và vô vi. Vì khoa học là để khám phá cái thế giới hữu vi, còn tự nhiên thì được điều khiển bằng đạo lớn vô vi. Do đó khoa học là sự nghiên cứu khám phá vật chất, có tính chính xác tuyệt đối, theo tư duy logich hợp lý đi tới phía trước, theo đường thẳng một chiều mãi. Và nó chỉ giải quyết được một mặt của cuộc sống con người thôi. Còn tự nhiên thì vận hành qua lại như con lắc đồng hồ, nên nó có tính tương đối. Và đó là sự vận hành đi tới, rồi lại đi lui, và đi lui rồi lại đi tới. Có nghĩa là nó đi tới thuận chiều bên này và đi lui ngược chiều bên kia, nên nó luôn có trạng thái cân bằng, trong hai mặt của nó nếu gộp chung lại làm một. Và sự vận động đó, thì được biểu thị bằng một đường tròn gọi là minh triết, gồm cả vô vi và hữu vi luôn. Vậy minh triết vốn đã có chứa cả khoa học trong đó rồi. Còn khoa học thì vẫn còn thiếu một chiều nữa, mà nó không thể dùng thực nghiệm, thí nghiệm để chứng minh được. Đó chính là chiều không gian tâm linh, tâm thức của con người mang tính nhân bản. Do đó nếu khoa học mà cứ đi tới mãi, là một sai lầm lớn luôn. Vì khoa học có thể sinh ra những phát minh lớn, mà nó không phù hợp với tính nhân bản của con người, thì nên dừng lại đi. Vì thực chất con người dùng khoa học như là một phương tiện để phục vụ cho mình, chứ không phải là để hãm hại chính mình. Do đó khoa học là để phục vụ đời sống con người, còn tính nhân bản là để hướng đời sống đó, đi tới chỗ sinh tồn cho con người có ý nghĩa cao nhất. Cho nên “khoảng cách” giữa khoa học và tự nhiên, chính là tính nhân bản vậy. Vì thế trên bề mặt văn bản lý thuyết thì sẽ có giới hạn. Và nhân bản chính là cái hướng mở rộng ra của nó là vô hạn. Cho nên bất cứ lý thuyết gì, đều phải có cơ sở khoa học và hướng đến tính nhân bản, thì mới có giá trị đích thực. Và khi chúng ta thực hành theo lý thuyết đó, thì mới phù hợp với khoa học và tự nhiên. Và đó chính là sự tồn tại của con người, đã được bảo vệ bằng cái thiện. Vì thế tính nhân bản là có nội hàm rất sâu xa, mà chúng ta muốn diễn tả nó bằng ngôn ngữ thì cũng không hết được. Và nếu ai nắm được cái lý thuyết có tính khoa học và nhân bản này, thì người đó sẽ có tự do trong thực hành một cách chính xác, linh hoạt và tốt đẹp nhất. Do đó như đã nói ở trên, khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành gồm có ba thứ. Thứ nhất là chữ “thời”, thứ hai là thật tánh của các pháp, thứ ba là tính nhân bản. Vậy biết thật tánh của các pháp, là biết rõ đối tượng là như thế nào. Có nghĩa là chúng ta đã biết rõ lý thuyết đó có cơ sở khoa học là như thế nào rồi. Còn cái biết về nhân bản, là mình phải biết rõ về mình nữa. Và khi chúng ta biết rõ về lý thuyết rồi, cũng như chúng ta biết mình cần gì ở cái lý thuyết đó. Thì chúng ta sẽ biết cách thu nhận nó, chính xác với như cầu của chúng ta hơn. Sau đó chúng ta thực hành nó thì áp dụng chử “thời” vào nữa là xong. Và đó chính là khi chúng ta đã “biết mình biết ta” rồi, thì áp dụng nó đúng thời điểm của thực tế, thì coi như là thành công thôi. Ví dụ như bây giờ chúng ta đi nghe quý thầy giảng pháp, nghe nói tới cái thiện cái ác, ăn chay làm lành, tụng kinh niệm Phật, rồi kinh này kinh kia đủ các pháp hết. Và chúng ta nghe như vậy, thì đa số chúng ta đều nghĩ đó chính là Phật pháp rồi. Nhưng đối với trình độ của những người xuất gia, dấn thân cầu pháp giải thoát của Phật, thì phải biết rõ pháp mà mình đang nghe đó là pháp gì? Và nó có thể đưa mình đi theo con đường giải thoát được hay không? Vì Phật pháp mới nghe qua nào là trí tuệ, từ bi hỷ xả, nhân quả nghiệp báo, này kia thì thấy cũng suông rồi, và đó chỉ là lý thuyết thôi. Nhưng chúng ta phải biết rằng Trong Phật pháp cũng có pháp tục đế và pháp chân đế, thuộc lý tưởng và chân lý. Và người nào muốn tu hành giải thoát thật sự, thì phải hướng vào con đường tu chứng theo pháp chân đế, thì mới được. Vì tận cùng của pháp tục đế, là tu phước đức hữu vi tới cỏi trời là hết. Còn tận cùng của pháp chân đế, là tu tới cỏi Phật giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Do đó chúng ta nghe pháp tục đế, và phải ráng thấu hiểu nó và bỏ đi, rồi sau đó chúng ta nghe pháp chân đế, thì mới áp dụng tu chứng được. Vì pháp tục đế chẳng qua chỉ là chỉ để an ủi, theo kiểu dùng tha lực để đối phó tình huống thôi. Còn pháp chân đế thì nếu bạn không chứng thiền, thì sẽ không hiểu được, vì nó là pháp tự lực mà. Vì thế cho nên pháp chân đế là rời khỏi lý thuyết rồi, nên nó tự do bay cao trên trời, không cần xác định phương hướng gì hết á. Vì khi chúng ta thiện mà biết mình thiện, thì đó là bất thiện rồi. Do đó khi mình làm việc thiện, với cái tâm vô ngã không biết mình làm thiện gì hết, thì đó mới chính là cái thiện chân đế “vô sở trụ”. Và cái thiện đó là giải thoát, vì tâm chúng ta rỗng rang nhẹ nhàng quá mà. Vì cái thiện đó là không có phan duyên tác ý, mà nó tự nhiên như mây bay trên bầu trời vậy. Cái đó chính là cái thiện tĩnh lặng bên trong chân tâm niết bàn. Là cái gốc của thiện ác tục đế thế gian. Và cái thiện này là vô tác, vô ngã nên không nói ra được đâu. Còn cái thiện mà chúng ta phân biệt được bằng ý thức, hay được ghi trong sách, hay nghe các thầy giảng, thì đó là cái thiện tục đế. Cái thiện này chỉ ngang với đạo đức học của ông Khổng Tử thôi. Đó là các pháp hữu vi của đời sống, vì ông Khổng Tử này chẳng biết tý gì tới pháp vô vi hết á. Và đó cũng chính là “pháp nạn” của Phật Giáo Trung Quốc. Vì chúng ta tu theo Phật, nhưng lại tu nhầm vô pháp của ông Khổng Tử, thì hỏi làm sao giải thoát thành Phật được đây trời. Do đó Phật Giáo Việt Nam ta, thì có gốc từ Phật Giáo Tổ Sư của Trung Quốc, nên cũng chẳng khá gì hơn đâu. Và pháp Phật kiểu đó là cách tu “thập thiện” để có phước đức hữu vi, giàu sang may mắn trong hiện đời này thôi. Nhưng phước đức hữu vi đó cũng là cái nhân của đau khổ, và sinh tử luân hồi về sau. Cho nên mấy cái gọi là tu “thập thiện” đó, nếu đem so với cái thiện chân đế thì nó là bất thiền rồi. Vì nó là cái thiện để đối nhân xử thế bên ngoài đời sống con người mà thôi. Tuy nhiên cái thiện tục đế, nó sẽ giúp chúng ta hướng thiện thì cũng tốt rồi. Và từ tích môn bên ngoài, chúng ta hướng thiện từ từ đi vào bản môn bên trong, rồi sẽ gặp cái thiện chân đế giải thoát kia thôi. Do đó tu phước đức tới cỏi trời thì vẫn chưa chạm tới chánh pháp đâu. Vì thế cũng là đi tu và khi chúng ta nghe pháp ào ào như vậy, nhưng khi chúng ta thực hành thì ứng dụng nó không được. Và cứ thế là chúng ta tu hoài tu mãi vẫn nằm ỳ một chỗ luôn. Vậy phải tu làm sao để biết được cái “khoảng cách” từ lý thuyết tới thực hành trước cái đả. Và chúng ta phải biết rõ trình độ của mình đang ở đâu, và biết pháp kia là pháp cở nào thì mới được. Sau đó nếu thấy hướng đi phù hợp với mình rồi, thì cứ thế thông thả mà đi lên thôi. Đối với khoa học, thì người ta dùng thí nghiệm và thực nghiệm, để chứng minh cho lý thuyết của mình là đúng. Còn về việc tu tập rèn luyện để có tư tưởng, thì người ta phải cần có kinh nghiệm và trãi nghiệm, trong cuộc đấu tranh với cuộc đời của chính mình. Vì kinh nghiệm là bài học được rút ra từ ý thức, và nó sẽ tạo ra kỷ năng tay nghề chuẩn xác cho chúng ta trong lao động. Còn trãi nghiệm là những thắng lợi về tinh thần, thông qua những đau khổ đắng cay trong tình cảm, tình yêu của mình. Chắc ai cũng biết giữa lý thuyết và thực hành, đều có một khoảng cách nhất định. Và cái “khoảng cách” đó là rất dài rất xa, vì nó là vô hình mà. Đó chính là “khoảng cách” giữa hai hàng chữ trên trang sách, mà chúng ta đọc mỗi ngày. Nếu ai đọc được những hàng chữ vô hình ghi ở chỗ đó, thì mới nhìn thấy được cái “khoảng cách” giữa lý thuyết và thực hành như thế nào. Lý thuyết luôn luôn có một “khoảng cách” với thực hành, dài ngắn khác nhau, là tùy vào nhận thức của mỗi người, chứ không phải lý thuyết là khác với thực hành. Vì nếu bạn thấy nó giống với thực hành là sai, mà bạn lại thấy nó khác với thực hành, thì cũng là sai luôn. Tuy nhiên nếu không có lý thuyết định hướng trước, thì thực hành sẽ không biết sẽ đi về đâu và làm gì. Nhưng khi chúng ta thực hành y chang với lý thuyết, thì sẽ không thể thấy được cái “khoảng cách” đó. Và nếu chúng ta học và làm như thế, thì sự học tập lý thuyết, và công việc lao động thực hành của chúng ta, sẽ không có kết quả cao hoặc là sẽ thất bại thôi. Vì phải học tập và nắm vững lý thuyết rồi mới thực hành, thì mới có kết quả tốt được. Vì giữa lý thuyết và thực hành, luôn có một “khoảng cách” để đối chiếu và so sánh, kiểm chứng lẫn nhau, thì chúng ta mới hiểu đúng và làm đúng, trong những yêu cầu thực tế của công việc. Bởi vì trong lý thuyết chúng ta rất khó nhận ra chử “thời”. Vì cũng việc đó mà chúng ta làm trong trường hợp này thì đúng, nhưng làm trong trường hợp khác là sai. Vì chử “thời” này là rất quan trọng. Vì nó không thể ghi ra văn bản được, mà nó chính là trãi nghiệm và kinh nghiệm của mỗi cá nhân con người chúng ta, thông qua việc thực hành lao động của chính mình. Vậy chúng ta có thể nói rằng, “khoảng cách” giữa lý thuyết và thực hành, đó chính là chữ “thời” vậy. Và chữ “thời” này chỉ có thể sinh ra ở giữa hai chữ “kinh nghiệm và trãi nghiệm” mà thôi. Vì người có kinh nghiệm sống từng trãi trong cuộc đời, đôi khi không học hành gì cả nhưng lại thành công rất lớn. Ngược lại những học giả, những con nghiện sách vở cứ sống mãi trong các tinh cầu lạnh giá, thì làm cái gì cũng thất cơ lỡ vận hết trơn. Vậy hiểu được chữ “thời” là nắm được cơ hội thành công. Tuy nhiên muốn có được điều đó, thì chúng ta phải sống thật mạnh mẽ, và phải giỏi về lý luận cũng như thực hành lao động liên tục, miệt mài không ngừng nghỉ. Đối với khoa học, thì người ta dùng thí nghiệm và thực nghiệm, để chứng minh cho lý thuyết của mình là đúng. Còn về việc tu tập rèn luyện để có tư tưởng, thì người ta phải cần có kinh nghiệm và trãi nghiệm, trong cuộc đấu tranh với cuộc đời của chính mình. Vì kinh nghiệm là bài học được rút ra từ ý thức, và nó sẽ tạo ra kỷ năng tay nghề chuẩn xác cho chúng ta trong lao động. Còn trãi nghiệm là những thắng lợi về tinh thần, thông qua những đau khổ đắng cay trong tình cảm, tình yêu của mình. Và nếu bạn có lý thuyết rồi, mà thực hành và có được kinh nghiệm và trãi nghiệm tốt, thì bạn sẽ biết được lý thuyết đó đúng hay là sai liền. Vì nếu lý thuyết nào phản khoa học và trái tự nhiên, thì lý thuyết đó là sai. Vì làm việc có khoa học thì bạn mới có kinh nghiệm được, cũng như khi bạn làm điều đó, trong một tinh thần hứng thú đam mê rất tự nhiên, thì mới có kết quả cao chứ. Và điều đó chứng tỏ rằng công việc của bạn làm rất khoa học, và phù hợp với tự nhiên, vì bạn đã áp dụng đúng lý thuyết rồi. Do đó học đi đôi với hành, là rất cần thiết cho sự thành bại của đời người. Vì chính hai điều này thông qua việc học tập và lao động đúng hướng, thì nó sẽ phát sinh trí tuệ và gầy dựng hành trình đạo đức hướng thiện cho chúng ta. Vì thật sự khi bạn đối diện với cuộc đời là vô hình mù mịt, nhưng khi bạn có tin yêu và học tập lao động miệt mài, thì cái màn đêm vô hình mù mịt kia, dần dần sẽ được khai sáng. Vì bạn phải có đạo đức trong công việc, trong nghề nghiệp, thì bạn mới có đạo đức với con người được. Vì rằng công việc bạn làm phải thõa mãn cho bạn, và cho cả đối tác nữa thì mới gọi là làm tốt được. Và chính điều đó không biết sẽ thu lợi được bao nhiêu, nhưng nó đã không làm bạn hối tiếc hay ân hận cắn rức gì là được rồi. Và thông qua việc học tập và lao động phấn đấu của mình, mà đã tạo ra tâm thế vững chắc như một cây cao, có gốc rễ mạnh mẽ chịu đựng được tất cả song gió của cuộc đời, thì đó là bạn đã thành công và hạnh phúc rồi. Vì thành công và hạnh phúc là có ngay đây trong hiện tại này, mà bạn chỉ cần bước đến cầm lấy nó lên thôi. Vì bên trong con người chúng ta, ai cũng có một trữ lượng hạnh phúc rất lớn, nhưng chỉ có điều là chúng ta không biết đó thôi, nên chúng ta mới đau khổ quá chừng. Và vấn đề là mỗi bước đi của chúng ta đến thành công và hạnh phúc, thì phải luôn học tập và thực hành lao động miệt mài không ngơi nghỉ. Vậy thông qua học tập lý thuyết và thực hành đúng đắn, thì nó sẽ đem lại cho chúng ta sự hiểu biết đúng đắn, với các hệ giá trị đích thực trên đời này, một cách không ảo tưởng hoang đường như trong mơ. Và thông qua đó chúng ta cũng rút ra được thái độ sống hòa hợp với mọi người, với môi trường làm việc của mình trong xã hội… Vậy thông qua lý thuyết và thực hành, sẽ giúp cho chúng ta nhìn thấy mình trong tha nhân, và cũng nhìn thấy thiên hạ có trong trái tim mình. Và chính điều này đã cho chúng ta thấy được cảm nhận của người khác, nên chúng ta có khả năng cảm thông với nhau hơn. Còn những kẻ chỉ biết có mình, mà chẳng hề quan tâm đến cảm giác của người khác, thì tất nhiên trong việc học và thực hành của bạn đã sai rồi. Vì bạn được gọi là “thắng lợi” thì bao giờ bạn cũng có tư duy mở, và một tấm chân tình vị tha rộng lượng. Vì chính điều đó là dấu hiệu cho thấy rằng bạn đang phát triển không ngừng, chứ không phải là sắp bế tắc. Ngược lại bạn làm gì không biết, nhưng bạn sống trong đau khổ ích kỷ quá, thì bạn đã thất bại rồi. Vì chỉ có mình mới có khả năng đem lại hạnh phúc hay khổ đau cho chính mình mà thôi. Vì sự nghiệp lớn nhất trên đời này, là cải tạo đời sống và thay đổi con người mình, để tiến đến sống trong một môi trường sống đầy đủ và hạnh phúc như ý. Vậy cái “khoảng cách” giữa lý thuyết và thực hành là gì? Đó chính là cái “khoảng nối” giữa tâm và vật, giữa khoa học và tự nhiên. Do đó bây giờ chúng ta cần đi sâu vào tìm hiểu hai cái “khoảng nối” đó là như thế nào. Vậy cái “khoảng nối” giữa tâm và vật của chúng ta có gì? Đó chính là sự nhận thức sai lệch của tâm, đối với sự vật về thật tánh của nó. Vì nếu bạn chỉ quan sát sự vật bên ngoài thôi, thì bạn sẽ thấy nó rất đơn giản như một vật đứng yên, vô tri vô giác được gọi là vật chất, và có tính đơn chất thôi. Nhưng khi chúng ta nhìn sâu vào thực thể của nó, thì chúng ta sẽ thấy nó được tạo ra bởi rất nhiều chất khác nhau. Và đó chính là con đường khám phá vật chất của khoa học. Và vì nó do nhiều chất kết hợp lại mà thành, nên nó sẽ không đứng yên như chúng ta vẫn tưởng, theo quan sát hàng ngày của chúng ta đâu. Do đó cái “khoảng nối” giữa tâm và vật chính là thật tánh của các pháp. Và khi chúng ta học lý thuyết thì sao. Vì lý thuyết là như thế, nhưng khi chúng ta áp dụng thì nó sẽ tùy thuộc vào từng cấp độ, nhận thức cao thấp khác nhau của mỗi người, nhận thức về nó như thế nào. Do đó khi cùng học một trường, và ra trường làm cùng một công việc như nhau, nhưng thành quả đạt được của mỗi người là luôn khác nhau. Vì nếu như ai nắm được cái căn bản yếu tính cốt lõi của lý thuyết, thì sẽ biết vận dụng lý thuyết đó một cách linh hoạt và chính xác hơn. Vì đơn giản lý thuyết chỉ là phương tiện để cải tạo đời sống mà thôi. Thì nó chính là phương tiện lớn nhất, để tạo ra rất nhiều phương tiện mới khác nữa, để ứng dụng vào việc khai thác vật chất có lợi cho ta. Còn nếu bạn chỉ hiểu một cách hình thức, thông qua các khái niệm chỉ dẫn của lý thuyết thôi, thì bạn sẽ không biết cách biến hóa, để áp dụng trong cuộc chiến đấu của mình, và do đó chắc chắn thành công của bạn cũng sẽ rất hạn chế vậy. Còn “khoảng cách” giữa khoa học và tự nhiên là gì? Đó chính là cái “khoảng nối” giữa các pháp hữu vi và vô vi. Vì khoa học là để khám phá cái thế giới hữu vi, còn tự nhiên thì được điều khiển bằng đạo lớn vô vi. Do đó khoa học là sự nghiên cứu khám phá vật chất, có tính chính xác tuyệt đối, theo tư duy logich hợp lý đi tới phía trước, theo đường thẳng một chiều mãi. Và nó chỉ giải quyết được một mặt của cuộc sống con người thôi. Còn tự nhiên thì vận hành qua lại như con lắc đồng hồ, nên nó có tính tương đối. Và đó là sự vận hành đi tới, rồi lại đi lui, và đi lui rồi lại đi tới. Có nghĩa là nó đi tới thuận chiều bên này và đi lui ngược chiều bên kia, nên nó luôn có trạng thái cân bằng, trong hai mặt của nó nếu gộp chung lại làm một. Và sự vận động đó, thì được biểu thị bằng một đường tròn gọi là minh triết, gồm cả vô vi và hữu vi luôn. Vậy minh triết vốn đã có chứa cả khoa học trong đó rồi. Còn khoa học thì vẫn còn thiếu một chiều nữa, mà nó không thể dùng thực nghiệm, thí nghiệm để chứng minh được. Đó chính là chiều không gian tâm linh, tâm thức của con người mang tính nhân bản. Do đó nếu khoa học mà cứ đi tới mãi, là một sai lầm lớn luôn. Vì khoa học có thể sinh ra những phát minh lớn, mà nó không phù hợp với tính nhân bản của con người, thì nên dừng lại đi. Vì thực chất con người dùng khoa học như là một phương tiện để phục vụ cho mình, chứ không phải là để hãm hại chính mình. Do đó khoa học là để phục vụ đời sống con người, còn tính nhân bản là để hướng đời sống đó, đi tới chỗ sinh tồn cho con người có ý nghĩa cao nhất. Cho nên “khoảng cách” giữa khoa học và tự nhiên, chính là tính nhân bản vậy. Vì thế trên bề mặt văn bản lý thuyết thì sẽ có giới hạn. Và nhân bản chính là cái hướng mở rộng ra của nó là vô hạn. Cho nên bất cứ lý thuyết gì, đều phải có cơ sở khoa học và hướng đến tính nhân bản, thì mới có giá trị đích thực. Và khi chúng ta thực hành theo lý thuyết đó, thì mới phù hợp với khoa học và tự nhiên. Và đó chính là sự tồn tại của con người, đã được bảo vệ bằng cái thiện. Vì thế tính nhân bản là có nội hàm rất sâu xa, mà chúng ta muốn diễn tả nó bằng ngôn ngữ thì cũng không hết được. Và nếu ai nắm được cái lý thuyết có tính khoa học và nhân bản này, thì người đó sẽ có tự do trong thực hành một cách chính xác, linh hoạt và tốt đẹp nhất. Do đó như đã nói ở trên, khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành gồm có ba thứ. Thứ nhất là chữ “thời”, thứ hai là thật tánh của các pháp, thứ ba là tính nhân bản. Vậy biết thật tánh của các pháp, là biết rõ đối tượng là như thế nào. Có nghĩa là chúng ta đã biết rõ lý thuyết đó có cơ sở khoa học là như thế nào rồi. Còn cái biết về nhân bản, là mình phải biết rõ về mình nữa. Và khi chúng ta biết rõ về lý thuyết rồi, cũng như chúng ta biết mình cần gì ở cái lý thuyết đó. Thì chúng ta sẽ biết cách thu nhận nó, chính xác với như cầu của chúng ta hơn. Sau đó chúng ta thực hành nó thì áp dụng chử “thời” vào nữa là xong. Và đó chính là khi chúng ta đã “biết mình biết ta” rồi, thì áp dụng nó đúng thời điểm của thực tế, thì coi như là thành công thôi. Ví dụ như bây giờ chúng ta đi nghe quý thầy giảng pháp, nghe nói tới cái thiện cái ác, ăn chay làm lành, tụng kinh niệm Phật, rồi kinh này kinh kia đủ các pháp hết. Và chúng ta nghe như vậy, thì đa số chúng ta đều nghĩ đó chính là Phật pháp rồi. Nhưng đối với trình độ của những người xuất gia, dấn thân cầu pháp giải thoát của Phật, thì phải biết rõ pháp mà mình đang nghe đó là pháp gì? Và nó có thể đưa mình đi theo con đường giải thoát được hay không? Vì Phật pháp mới nghe qua nào là trí tuệ, từ bi hỷ xả, nhân quả nghiệp báo, này kia thì thấy cũng suông rồi, và đó chỉ là lý thuyết thôi. Nhưng chúng ta phải biết rằng Trong Phật pháp cũng có pháp tục đế và pháp chân đế, thuộc lý tưởng và chân lý. Và người nào muốn tu hành giải thoát thật sự, thì phải hướng vào con đường tu chứng theo pháp chân đế, thì mới được. Vì tận cùng của pháp tục đế, là tu phước đức hữu vi tới cỏi trời là hết. Còn tận cùng của pháp chân đế, là tu tới cỏi Phật giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Do đó chúng ta nghe pháp tục đế, và phải ráng thấu hiểu nó và bỏ đi, rồi sau đó chúng ta nghe pháp chân đế, thì mới áp dụng tu chứng được. Vì pháp tục đế chẳng qua chỉ là chỉ để an ủi, theo kiểu dùng tha lực để đối phó tình huống thôi. Còn pháp chân đế thì nếu bạn không chứng thiền, thì sẽ không hiểu được, vì nó là pháp tự lực mà. Vì thế cho nên pháp chân đế là rời khỏi lý thuyết rồi, nên nó tự do bay cao trên trời, không cần xác định phương hướng gì hết á. Vì khi chúng ta thiện mà biết mình thiện, thì đó là bất thiện rồi. Do đó khi mình làm việc thiện, với cái tâm vô ngã không biết mình làm thiện gì hết, thì đó mới chính là cái thiện chân đế “vô sở trụ”. Và cái thiện đó là giải thoát, vì tâm chúng ta rỗng rang nhẹ nhàng quá mà. Vì cái thiện đó là không có phan duyên tác ý, mà nó tự nhiên như mây bay trên bầu trời vậy. Cái đó chính là cái thiện tĩnh lặng bên trong chân tâm niết bàn. Là cái gốc của thiện ác tục đế thế gian. Và cái thiện này là vô tác, vô ngã nên không nói ra được đâu. Còn cái thiện mà chúng ta phân biệt được bằng ý thức, hay được ghi trong sách, hay nghe các thầy giảng, thì đó là cái thiện tục đế. Cái thiện này chỉ ngang với đạo đức học của ông Khổng Tử thôi. Đó là các pháp hữu vi của đời sống, vì ông Khổng Tử này chẳng biết tý gì tới pháp vô vi hết á. Và đó cũng chính là “pháp nạn” của Phật Giáo Trung Quốc. Vì chúng ta tu theo Phật, nhưng lại tu nhầm vô pháp của ông Khổng Tử, thì hỏi làm sao giải thoát thành Phật được đây trời. Do đó Phật Giáo Việt Nam ta, thì có gốc từ Phật Giáo Tổ Sư của Trung Quốc, nên cũng chẳng khá gì hơn đâu. Và pháp Phật kiểu đó là cách tu “thập thiện” để có phước đức hữu vi, giàu sang may mắn trong hiện đời này thôi. Nhưng phước đức hữu vi đó cũng là cái nhân của đau khổ, và sinh tử luân hồi về sau. Cho nên mấy cái gọi là tu “thập thiện” đó, nếu đem so với cái thiện chân đế thì nó là bất thiền rồi. Vì nó là cái thiện để đối nhân xử thế bên ngoài đời sống con người mà thôi. Tuy nhiên cái thiện tục đế, nó sẽ giúp chúng ta hướng thiện thì cũng tốt rồi. Và từ tích môn bên ngoài, chúng ta hướng thiện từ từ đi vào bản môn bên trong, rồi sẽ gặp cái thiện chân đế giải thoát kia thôi. Do đó tu phước đức tới cỏi trời thì vẫn chưa chạm tới chánh pháp đâu. Vì thế cũng là đi tu và khi chúng ta nghe pháp ào ào như vậy, nhưng khi chúng ta thực hành thì ứng dụng nó không được. Và cứ thế là chúng ta tu hoài tu mãi vẫn nằm ỳ một chỗ luôn. Vậy phải tu làm sao để biết được cái “khoảng cách” từ lý thuyết tới thực hành trước cái đả. Và chúng ta phải biết rõ trình độ của mình đang ở đâu, và biết pháp kia là pháp cở nào thì mới được. Sau đó nếu thấy hướng đi phù hợp với mình rồi, thì cứ thế thông thả mà đi lên thôi. Hí hí! ……………………………………………. Cái “khoảng cách” từ lý thuyết tới thực hành, đối với người này thì rất gần, nhưng đối với người khác thì rất xa. Do đó tuổi tác lâu mau không phải là quyết định nhanh chậm của con đường tu hành. Mà cái chính là chúng ta có biết áp dụng lý thuyết vào thực hành cho đúng hay không mà thôi.

lý thuyết và thực hành