[Đổi mới tư duy triển khai thông tin đối ngoại, tuyên truyền biển đảo] Khẳng định công tác thông tin đối ngoại đã góp phần quảng bá hình ảnh một Việt Nam độc lập, tự chủ, giàu bản sắc văn hóa, tin cậy, thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc
Khoa Truyền thông và Văn hóa đối ngoại được thành lập từ ngày 23/6/2008, là một trong những Khoa được thành lập mới nhất tại Học viện Ngoại giao. Từ 2008-2010, Khoa tiến hành Lập Đề án nghiên cứu mở ngành học Cử nhân Truyền thông quốc tế, và đã được Bộ Giáo
Truyền thông đại chúng đề cập đến một loạt các công ngh ngoại trừ Châu Á và Thái Bình Dương, Phê bình của Bennett đối với phương tiện truyền thông đại chúng của Thế kỷ 21 cho rằng ngày nay việc một nhóm người nhận các tin bài khác nhau, từ các nguồn hoàn
Thành ra, truyền thông, nhất là đối ngoại, càng cần đáp ứng yêu cầu đầu tiên của nghề báo: tính chính xác. Với cử tọa ngoại quốc, một khi bị họ thắc mắc về tính chính xác, sẽ dễ bị liệt là "tuyên truyền" - một từ và khái niệm mà từ lâu họ đã bác bỏ
Khoa Truyền thông và Văn hóa đối ngoại được thành lập từ ngày 23/6/2008, là một trong những Khoa được thành lập mới nhất tại Học viện Ngoại giao. Từ 2008-2010, Khoa tiến hành Lập Đề án nghiên cứu mở ngành học Cử nhân Truyền thông quốc tế, và đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt đồng ý mở ngành từ tháng 12/2009.
x9MQmRm. Đang tải.... xem toàn văn Thông tin tài liệu Ngày đăng 24/07/2021, 0236 SO SÁNH KHÁI NIỆM TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ VÀ TRUYỀN THÔNG ĐỐI NGOẠITHÀNH TỰU CỦA TRUYỀN THÔNG ĐỐI NGOẠI TRONG THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG. THÔNG QUA BÀI LUẬN NÀY, MONG MUỐN NGƯỜI ĐỌC CÓ CÁI NHÌN ĐA CHIỀU VỀ VẤN ĐỀ NÀY. ... ý biện pháp thực I Thành tựu công tác truyền thông đối ngoại thực đường lối đối ngoại Đại hội XII Trong nhiệm kỳ Đại hội XII Đảng, công tác truyền thông đối ngoại đạt nhiều thành tựu quan trọng,... chuyên viên công tác cục Thông tin đối ngoại - Bộ Thông tin Truyền thơng, phân tích thành tựu ngành truyền thông truyền thông đối ngoại thực đường lối đối ngoại Đại hội XIII Đảng Chỉ thiếu sót cần... 11 II SO SÁNH TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ .14 VÀ TRUYỀN THƠNG ĐỐI NGOẠI Điểm giớng .14 Điểm khác 15 C PHẦN LIÊN HỆ 17 I Thành tựu công tác truyền thông đối - Xem thêm -Xem thêm SO SÁNH KHÁI NIỆM TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ VÀ TRUYỀN THÔNG ĐỐI NGOẠI THÀNH TỰU CỦA TRUYỀN THÔNG ĐỐI NGOẠI TRONG THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG,
Truyền thông đối ngoại bao gồm Chính phủ, cơ quan quản lý ngành dọc và ngành ngang, báo chí truyền thông, các cơ quan digital và agency, các chuyên gia, các KOLs, các nhóm cộng đồng và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội Truyền thông đối nội – nội bộ Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, chế độ đãi ngộ và các hoạt động nâng cao tinh thần làm việc cho anh em công nhân viên, chương trình event nội bộ, quan tâm tới đời sống công nhân viên, khen thưởng, quà cáp, thăm hỏi ốm đau & hiếu hỷ, chương trình Teambuilding. Mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên, giữa các phòng ban và giữa các nhân viên với nhau. Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về truyền thông đối ngoại và vai trò của nó đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Truyền thông có vai trò nhận diện thương hiệu Tác động của truyền thông đối ngoại đối với sự phát triển của doanh nghiệp – Impacts of External Relations on Business Development Cấp độ 1 Luôn luôn tuân thủ luật pháp Giấy phép hoạt động, đóng thuế và đóng đầy đủ những chế độ phúc lợi bảo hiểm cho công nhân viên. Những cơ quan chức năng liên quan Bộ kế hoạch & đầu tư, Bộ lao động thương binh & xã hội, Tổng cục thuế. Nhiệm vụ của người làm PR Tạo dựng và liên kết với cơ quan chức năng của nhà nước để đảm bảo doanh nghiệp tuân thủ mọi luật pháp và có đầy đủ các giấy tờ cho phép ngành hàng hoạt động. Nhiệm vụ ở tầm cao này thuộc về CEO, Giám đốc PR, Giám đốc Marketing. Cấp độ 2 Operations & Products Pháp lý và vận hành các sản phẩm Giấy phép hoạt động An toàn vệ sinh, an toàn phòng cháy chữa cháy, cơ sở vật chất, nhà xưởng, nhân sự, xử lý rác thải Tuân thủ các quy định của bộ thông tin và truyền thông Tuân thủ các quy định của ngành dọc và ngành ngang, các cơ quan ngang bộ Chịu trách nhiệm Giám đốc PR và Giám đốc Marketing Cấp độ 3 Marketing and Communications Đảm bảo quan hệ tốt với các đối tác Đối tác phân phối, đối tác cung ứng, đối tác giao vận, đối tác tiêu thụ Xây dựng mối quan hệ với báo chí và truyền thông. Mối quan hệ tốt với chuyên gia, giới chuyên môn, KOLsXây dựng mối quan hệ với người tiêu dùng Xây dựng mối quan hệ tốt với địa phương Chịu trách nhiệm Giám đốc PR, trưởng phòng PR, PR Leader & Giám đốc Marketing, Team Leader. Cấp độ 4 Sustainable & Development Phát triển bền vững Về mặt kinh tế Về mặt Xã hội Về mặt Môi trường > Cấp độ này nằm ngoài phạm trù của PR – Quan hệ công chúng mà nằm ở tầm chính phủ lãnh đạo Cần đảm bảo bền vững kinh tế và có lời, đóng góp xã hội và thực hiện những trách nhiệm cộng đồng. Phạm vi tìm hiểu chính của Quan hệ đối ngoại – PR Public Relations trong bài viết này chúng ta sẽ tập trung vào cấp độ 2 Marketing & Communications. Tổng quan báo chí Việt Nam Toàn cảnh báo chí Việt Nam Tham khảo tại Ban tuyên giáo trung ương và bộ thông tin và truyền thông Hệ thống báo chí Việt Nam bị quản lý bởi hai đơn vị song song Ban tuyên giáo trung ương và Chính phủ. Chính phủ Bộ thông tin và truyền thông Trong đó Cục báo chí Báo in và báo điện tử, cục phát thanh truyền và thông tin điện tử…, Đài truyền hình Việt Nam, Đài phát thanh. Ban tuyên giáo trung ương Ban tuyên giáo trung ương tại Hà Nội, Cơ quan thường trực, và khác. PR Rocket Working with Press – Làm việc với báo chí 1, Newspaper reading behavior – Hành vi đọc báo Trước khách hàng của chúng ta chủ yếu đọc báo in Nhưng đến nay người đọc chuyển dịch sang báo điện tử, sang truyền hình. Người làm PR phải hiểu biết về Digital. Các đầu báo điều phải chuyển dịch theo người đọc Vừa có ấn phẩm báo in và có một hoặc nhiều website báo điện tử song hành. Tham khảo lượng đọc giả như Similarweb, Comcore 2, Publishing and Responsibility – Xuất bản và trách nhiệm Tất cả thông tin báo chí do biên tập và báo chí xuất bản Nhưng cục báo chí sẽ kiểm soát nội dung và đối soát nếu có sai phạm. Người chịu trách nhiệm chính Tổng và phó tổng biên tập Những thành viên báo chí CTV báo chí, Phóng viên, nhà báo, biên tập, thư ký tòa soạn, phó tổng biên tập, tổng biên tập Hội nhà báo Việt Nam, Câu lạc bộ 3, Quy trình đăng tải báo chí Writing – Phóng viên, nhà báo Nhận bài, viết bài và gửi duyệt Trưởng ban, trưởng mục Chịu trách nhiệm duyệt và lên lịch bài viết Tổng biên tập và phó tổng biên tập Đưa định hướng và đưa kế hoạch Viết bài, duyệt các đối tác liên hệ Thư ký tòa soạn Giúp đỡ Tổng biên tập, duyệt, gỡ bài và làm việc với cơ quan đối tác Cục báo chí là đơn vị cao nhất chịu trách nhiệm về luật báo chí, thuần phong mỹ tục và thu hồi các giấy phép của các cơ quan báo chí. Regulators, Government và Other groups – Cơ quan quản lý, chính phủ và các nhóm khác Regulators – Cơ quan quản lý Bao gồm Sở thông tin và truyền thông Nơi cung cấp giấy phép quảng cáo, giấy phép đăng tải thông tin, Giấy phép công bố chất lượng, Giấy công tác bổ nhiệm cho các nhà báo, Giấy phép xin tổ chức sự kiện Government – Chính phủ Dành cho các doanh nghiệp lớn hoặc các doanh nghiệp đa quốc gia Community Groups – Nhóm cộng đồng Đối với từng lĩnh vực sẽ có nhóm cộng đồng tương ứng. Ví dụ như Webtretho, Tinh tế, Otofun, Cộng đồng Doanh nghiệp BNI, Vozforum. Hoặc nhóm chuyên gia, chuyên gia kinh tế, nha sĩ, doanh nghiệp Influences – Ca sĩ, Diễn Viên, KOLs Chuyên gia, nhân vật có ảnh hưởng… Nguyên tắc xây dựng mối quan hệ đối ngoại Khi xây dựng với bất cứ cơ quan tổ chức nào phải đảm bảo ba nguyên tắc Hướng tới giá trị chung, Tương tác với nhau bằng những dự án chuyên nghiệp, Cá nhân hóa mối quan hệ. Kế hoạch xây dựng mối quan hệ Trước tiên phải có định hướng rõ ràng cho mối quan hệ đó. Mục đích khi làm việc với báo chí Ngăn chặn thông tin tiêu cực, Giảm thiểu tầm ảnh hưởng của thông tin tiêu cực, Đăng tải thông tin hiệu quả. Cách liên hệ báo chí Lên list danh sách báo chí trong ngành hàng của mình từ báo điện tử, báo in và truyền hình Sau đó tìm contact, email để liên hệ trực tiếp để giới thiệu về lĩnh vực mình đang phụ trách và đề xuất hợp tác với họ. PR Plan Strategic house – Campaign Plan – Content Plan Chiến lược – Chiến dịch – Kế hoạch triển khai nội dung. Execution – Thực thi Media Booking, Event, Production. Strategic house Product PR Họp với Marketing để ra mắt sản phẩm mới hàng năm. Và xác định chiến lược công việc, phạm vi công việc cần hỗ trợ. Cần PR tham gia ở mức độ nào Cần tạo ra ảnh hưởng, xây dựng niềm tin, thay đổi thói quen và hành vi của khách hàng. Cần có sự tham gia của những ai, của những KOLs nào, và mức độ tham gia của bao nhiêu báo chí. PR sẽ hỗ trợ Marketing gây ảnh hưởng sâu rộng tới công chúng, cơ quan quản lý, báo chí và người tiêu dùng. Brand PR Cần đi song hành với mục tiêu Marketing. Mục tiêu Về độ nhận biết, độ yêu thích, độ tin cậy của thương hiệu đối với người tiêu dùng. PR phải xây dựng sức dựng và nâng cao chỉ số sức khỏe thương hiệu. Các chiến lược PR sẽ phải gia tăng nhận thức và thay đổi niềm tin với nhãn hàng. Hoặc là Brand hoặc PR phải tìm ra một ý tưởng lớn gây ảnh hưởng để thực hiện. Sự hợp tác của PR để nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội CSR Ngoài những hoạt động từ thiện, thiện nguyện mà chúng ta từng biết đến. PR phải tổ chức các chương trình hướng tới giá trị của cộng đồng, nâng cao sức khỏe cộng đồng, cùng chung tay hướng tới xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn. Từ đó chỉ số niềm tin của doanh nghiệp ngày càng cao. Việc làm này thường xuyên – nhất quán – chân thành. Việc báo chí nhắc đến doanh nghiệp thông qua các hoạt động CSR thì rất tốt. Kết quả Xây dựng thương hiệu, xây dựng hình ảnh, giảm thiểu chi phí marketing. Từ đó gián tiếp tăng doanh số lợi nhuận của doanh nghiệp. PR Plan Campaign Plan Bản triển khai hoạt động Campaign Objectives Nhắc lại mục tiêu truyền thông và mục tiêu marketing của chiến dịch. Campaign Message Ý tưởng lớn, từ khóa của chiến dịch, thông điệp truyền thông cho thương hiệu hay cho sản phẩm. Target Audience Nhóm đối tượng mục tiêu Người tiêu dùng, các bên có ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Thông điệp mục tiêu sẽ được điều chỉnh với từng nhóm khách hàng – Budgets ngân sách – Timeline kế hoạch thời gian triển khai cụ thể PR Plan Content Plan Kế hoạch triển khai nội dung Phát triển thông điệp thành từng kế hoạch nội dung cụ thể cho từng loại hình truyền thông. Các giai đoạn của một chiến dịch marketing Trải nghiệm – Kêu gọi hành động – Lan tỏa Mỗi chiến dịch xác định là chạy bao nhiêu loạt bài, làm bao nhiêu TVC, mời những ai tham dự, tổ chức bao nhiêu sự kiện. Lên kế hoạch xây dựng kịch bản, nội dung, kế hoạch thực hiện, ngày ra mắt, ngày chạy bài, ngày kết thúc và đo lường kết quả. Việc đăng tải các bài báo và những video viral Trước hết bạn có một list danh sách các anh chị báo chí và các đầu báo nào bạn sẽ chạy cho chiến dịch này. Bạn phải nắm được lịch nhận bài và lên bài của báo đó. Trước tiên bạn phải gửi bản thảo cho bên báo – biên tập và duyệt – Lên bài – đo lường. Bạn phải gửi nội dung và bản thảo sớm hơn để điều chỉnh giữa hai bên cho phù hợp và kịp lên bài đúng thời điểm mà bạn mong muốn. Mỗi loại hình truyền thông đều có một content phù hợp, nhiệm vụ của bạn là làm content đúng như bên đối tác yêu cầu. Mỗi một chuyên viên PR phải có một bản Timeline, Bản Check to do list, các kế hoạch lên bài, các kế hoạch đăng tải chi tiết để phù hợp với bên Marketing phù hợp. Cuối cùng thương hiệu là một câu chuyện của thương hiệu bạn, mỗi một thương hiệu phải có một câu chuyện để kể cho khách hàng của mình.
Tuyên truyền đối ngoại Tuyên truyền theo nghĩa rộng là sự truyền bá những quan điểm, những tư tưởng chính trị, triết học, khoa học nghệ thuật nhằm biến những tư tưởng, quan điểm ấy thành ý thức xã hội, thành hoạt động của quần chúng. Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là quá trình truyền bá những quan điểm lý luận nhằm xây dựng cho quần chúng thế giới quan nhất định phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền và kích thích những hoạt động thực tế của quần chúng phù hợp với quan điểm đó chủ yếu đề cập đến tuyên truyền chính trị là truyền bá những tư tưởng, quan điểm, đường lối chính sách của đảng nhằm hình thành thế giới quan khoa học của mỗi người dân, hình thành ý thức xã hội, cổ vũ tính tích cực hành động. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên truyền là đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin và dân làm. Có nghĩa là nhằm mục đích nâng cao nhận thức, hình thành niềm tin, cổ vũ tính tích cực hành động. Tuyên truyền đối ngoại là một loại hình tuyên truyền hướng ra bên ngoài, có đối tượng và phạm vi thế giới, nhằm gây uy tín và ảnh hưởng của đất nước mình trên trường quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ và đồng tình của các nước, đồng thời góp phần thực hiện nghĩa vụ quốc tế của giai cấp công nhân. Đối với nước ta hiện nay, tuyên truyền đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta nhằm làm cho các nước, người nước ngoài, người Việt nam ở nước ngoài hiểu đúng đắn, đầy đủ về quan điểm đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đồng tình ủng hộ nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Như vậy, tuyên truyền đối ngoại là hoạt động tuyên truyền hướng vào đối tượng ở bên ngoài và người nước ngoài đang có mặt trong nước. Nhiệm vụ của tuyên truyền đối ngoại là nhằm tạo điều kiện quốc tế hòa bình và thuận lợi nhất cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, hoạt động tuyên truyền đối ngoại về bản chất là đồng nghĩa với hoạt động thông tin đối ngoại. Hiện nay trong các văn bản, cách nói, cách viết của Đảng và Nhà nước ta, sử dụng thuật ngữ thông tin đối ngoại do trong quan hệ quốc tế người ta ít dùng từ tuyên truyền. Thậm chí, một số thế lực thù địch còn xuyên tạc coi tuyên truyền là “nhồi sọ của cộng sản”. Vì vậy, từ năm 1992, trong chỉ thị 11- CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng khóa VII đã dùng thuật ngữ “thông tin đối ngoại” thay cho thuật ngữ “tuyên truyền đối ngoại”. Song chúng ta cần hiểu thông tin đối ngoại và tuyên truyền đối ngoại là một khái niệm có nội dung thống nhất.
Tăng cường vai trò, hiệu quả truyền thông đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tếtheo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng - ẢnhVOVVăn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng chỉ rõ một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ 2016-2021 là “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế”1. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, vai trò của truyền thông đối ngoại giữ vai trò, vị trí rất quan trọng. Quán triệt và thực hiện tốt nhiệm vụ truyền thông đối ngoại của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, công tác truyền thông đối ngoại đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước và các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong phát triển kinh tế - xã hội, đấu tranh bảo vệ chủ quyền và các lợi ích chính đáng của nước ta; nâng cao hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tăng cường nguồn lực cho phát triển đất nước. Hoạt động của các cơ quan truyền thông đã có sự chuyển biến rõ rệt về tổ chức, nội dung, hình thức, loại hình, quy mô, phương tiện kỹ thuật và ảnh hưởng xã hội, bảo đảm đưa thông tin tới người nước ngoài ở Việt Nam, tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và tới bạn bè quốc tế, góp phần thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế của Việt Nam. Cơ quan báo, tạp chí và nhà xuất bản lớn đã làm nòng cốt, đi đầu trong công tác tuyên truyền đối ngoại; từng bước tổ chức việc đưa thông tin của hệ thống này lên mạng internet, kịp thời cập nhật thông tin ra thế giới, phản ánh đầy đủ, đúng đắn, kịp thời, toàn diện mọi mặt hoạt động của đất nước. Truyền thông đối ngoại đã mở rộng diện thông tin tới một số khu vực trên thế giới, phục vụ ngày càng tốt hơn chủ trương hội nhập và tăng cường đoàn kết quốc tế của Việt Nam. Trong đó, công tác cung cấp và quản lý thông tin cho phóng viên, cơ quan báo chí nước ngoài của Bộ Ngoại giao có nhiều đổi mới, nhất là trong dịp tổ chức các hội nghị quốc tế lớn, các sự kiện chính trị, ngoại giao quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Với 832 cơ quan báo, tạp chí in, trong đó có 193 báo; 639 tạp chí; 150 báo điện tử được cấp phép; có 67 đài phát thanh, truyền hình và hơn website trên mạng internet đã cung cấp lượng thông tin lớn cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế. Việc trao đổi thông tin với các nước trong khu vực và trên thế giới thông qua chương trình truyền hình ASEAN, hệ thống các cơ quan đại diện của Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, báo Nhân dân... ở nước ngoài đã góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ truyền thông đối ngoại; thông tin kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về hợp tác, phát triển kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế, thúc đẩy quan hệ thương mại và hợp tác đầu tư giữa nước ta với các nước trên thế giới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; thông tin kịp thời về các công việc chung của cộng đồng quốc tế, các diễn đàn, tổ chức khu vực và quốc tế, nhất là tình hình ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, và những vấn đề quốc tế khác mới nổi lên như vấn đề lao động, việc làm, di cư, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, khủng bố, an ninh tiền tệ, ngân hàng , cuộc cách mạng công nghiệp Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ truyền thông đối ngoại còn có những hạn chế sau Nhận thức về tầm quan trọng của truyền thông đối ngoại ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhất là cơ quan chủ quản chưa thật đầy đủ. Trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn có lúc chưa theo kịp những chuyển biến mau lẹ, phức tạp của tình hình thế giới và khu vực … Truyền thông trong nước đang có sự cạnh tranh gay gắt bởi sự thâm nhập của các phương tiện truyền thông nước ngoài, trong đó có những thông tin trái với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Hoạt động của các thế lực thù địch với những âm mưu thủ đoạn mới đang triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng internet, mạng xã hội để chống phá ta. Các phương tiện truyền thông nước ngoài với những phương tiện truyền phát hiện đại, khả năng phủ sóng rộng, nội dung thông tin đa dạng có mặt đang “lấn sân” các phương tiện truyền thông đối ngoại nước ta. Một số cơ quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích, chưa làm tốt chức năng định hướng dư luận trong nước và quốc tế, đưa thông tin thiếu nhạy cảm về chính trị, không phù hợp với lợi ích của đất nước, của nhân dân, không phù hợp định hướng thông tin, gây ra những tác động xấu đến dư luận xã hội, làm tổn hại đến lợi ích đất nước, lợi ích chính đáng của tổ chức, là kẽ hở để báo chí nước ngoài, các trang tin điện tử của các thế lực chống đối lợi dụng để xuyên tạc. Thông tin sai sự thật, gây phương hại đến lợi ích quốc gia, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của công dân vẫn chiếm tỷ lệ tương đối trong các hành vi vi phạm của báo chí. Không ít cơ quan báo chí nhất là báo điện tử khai thác thông tin từ truyền thông xã hội, nhưng lại buông lỏng hoặc bỏ qua khâu thẩm định nguồn tin nên đã cho đăng tải thông tin không chính xác, hoặc sai sự thật, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Tình trạng thông tin không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam vẫn còn xảy ra, nhất là trên báo điện tử và nhiều trang thông tin điện tử tổng hợp của cơ quan báo chí. Hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, nhiều nội dung chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, tính công khai, minh bạch, tính khả thi, ổn định còn hạn chế; kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực thi công vụ còn nhiều yếu kém, gây trở ngại không nhỏ đối với hoạt động truyền thông đối ngoại và đội ngũ những người làm công tác trên lĩnh vực này. Bên cạnh đó, việc đầu tư cho truyền thông đối ngoại chưa tương xứng và còn dàn trải; bộ máy tổ chức chỉ đạo, quản lý chưa thật hợp lý, hoạt động chưa hiệu quả; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý những tiêu cực, vi phạm trong hoạt động truyền thông nói chung, trong hoạt động truyền thông đối ngoại nói riêng còn chậm và thiếu triệt để. Trong thời gian qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, phóng viên nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra về truyền thông đối ngoại và hội nhập quốc tế một cách sâu rộng. Truyền thông đối ngoại của nước ta có đơn vị còn thiếu những trang thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ cho các hoạt động tác nghiệp. Hệ thống thiết chế truyền thông và cơ sở vất chất - kỹ thuật cho hoạt động truyền thông còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp,... Để khắc phục những hạn chế trên và nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế một cách sâu rộng, thời gian tới cần tiếp tục thực hiện tốt một số nội dung sau Một là, nắm vững quan điểm Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã nêu “Năm năm tới là thời kỳ Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế trong Cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải nỗ lực rất cao để tận dụng thời cơ, vượt qua những thách thức lớn trong quá trình hội nhập”2. Tăng cường hiệu quả công tác chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra giám sát việc triển khai các hoạt động thông tin, tuyên truyền đối ngoại theo tinh thần Kết luận số 16 của Bộ Chính trị khóa XI về “Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011 – 2020”. Nắm vững phương hướng, nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn mới là “Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đối ngoại đa phương, chủ động và tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lanh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của đất nước”3. Hai là, nắm vững phương hướng, nhiệm vụ phát triển văn hóa trong giai đoạn mới là “Chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực; tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm văn hóa dân tộc. Chủ động đón nhận cơ hội phát triển, vượt qua các thách thức để giữ gìn, hoàn thiện bản sắc văn hóa dân tộc; hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái của toàn cầu hóa về văn hóa”4. Các cơ quan tuyên truyền cần có cách làm mới, bám sát đối tượng, cung cấp thứ độc giả đang cần; mỗi năm có một chủ để chính, đối tượng trọng tâm để tuyên tuyền, quảng bá; có sự kiểm soát, chọn lọc thông tin chính xác, hiệu quả để đưa đến công chúng bằng nhiều ngôn ngữ, hình thức để tạo sức lan tỏa. Ba là, tăng cường vai trò của các cơ quan báo chí đối ngoại, coi đó là lực lượng chủ lực để quảng bá hình ảnh quốc gia ra thế giới. Thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, nâng tính tư tưởng, nhân văn và khoa học, đề cao trách nhiệm xã hội, góp phần hội nhập quốc tế sâu rộng. Tiến hành quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống truyền thông, trong đó có truyền thông đối ngoại, đáp ứng yêu cầu phát triển, bảo đảm thiết thực, hiệu quả; chú trọng công tác quản lý các loại hình thông tin trên internet để định hướng tư tưởng. Đồng thời, “tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”5. Bốn là, chủ động tuyên truyền hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng hóa các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm văn hóa dân tộc. Chủ động đón nhận cơ hội phát triển, vượt qua thách thức để giữ gìn, hoàn thiện bản sắc văn hóa dân tộc, hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái của toàn cầu hóa về văn hóa. “Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đối ngoại đa phương, chủ động và tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương”6. Năm là, tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, tham mưu về đối ngoại; đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại; chăm lo đào tạo, rèn lyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại; bồi dưỡng kiến thức đối ngoại cho cán bộ chủ chốt các cấp. Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và truyền thông đối ngoại. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ làm công tác khoa học, chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực này. Xây dựng cơ chế phối hợp xử lý nhanh chóng, chính xác, hiệu quả các vấn đề quan trọng, nhạy cảm, đột xuất để chủ động trong công tác định hướng dư luận và đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc của thế lực cơ hội, thù địch. Sớm xây dựng kịch bản truyền thông, thông tin, tuyên truyền các vấn đề quan trọng, phức tạp, mới nảy sinh để giành thế chủ động thông tin. Sáu là, tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao, trong đó có viễn thông, công nghệ thông tin. Đầu tư, nâng cấp và đổi mới cơ sở vật chất - kỹ thuật, hiện đại hóa hệ thống trang thiết bị, thu hẹp khoảng cách về công nghệ truyền thông giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, trên cơ sở đó góp phần nâng cao một bước trình độ và chất lượng sản phẩm truyền thông, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế một cách sâu rộng; “có cơ chế khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ truyền thông tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ văn hóa..., tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam” ra nước ngoài, đến với bạn bè quốc tế. _________________ 1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 219 2, 3 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 73-74, 130-131 4, 5 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 153-154, 6 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 153-154
Thông tin, tuyên truyền đối ngoại là một cầu nối giúp tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam và các đối tác, là lực lượng quan trọng quảng bá và nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam, góp phần thu hút các nguồn lực để phát triển đất nước. Cùng với tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn, gắn bó mật thiết hơn đối với việc triển khai các hoạt động đối ngoại của Việt Nam. Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đại biểu tham quan trưng bày ảnh các tác phẩm đoạt giải tại Lễ trao Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại lần thứ VII. Ảnh TTXVN Từ đầu năm 2020 đến nay là quãng thời gian rất đặc biệt đối với công tác đối ngoại cũng như thông tin, tuyên truyền đối ngoại. Lần đầu tiên, Việt Nam đảm nhận nhiều trọng trách quốc tế trong cùng một thời điểm; đồng thời, nhiều hoạt động ngoại giao song phương diễn ra rất sôi động. Ở trong nước, hai năm qua là thời gian quyết định việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, tổ chức thành công và tích cực triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng XIII của Đảng. Đáng chú ý là, các nhiệm vụ đối ngoại và đối nội quan trọng đó được triển khai trong một bối cảnh đặc biệt chưa từng có, với những tác động sâu sắc của đại dịch COVID-19. Chính trong bối cảnh đầy khó khăn và thách thức đó, công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại đã được đẩy mạnh với nhiều đổi mới, sáng tạo, góp phần quan trọng cho việc triển khai chính sách đối ngoại đạt nhiều thành công rực rỡ. Những nỗ lực của công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại trong bối cảnh chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch COVID-19 đã cho thấy những bài học có giá trị lý luận và thực tiễn đối với cả công tác truyền thông, cũng như công tác đối ngoại. Đại dịch COVID-19 đã và đang có những ảnh hưởng sâu sắc đến các khía cạnh của đời sống nhân loại theo những cách thức chưa từng có tiền lệ. Đặc biệt là, công tác đối ngoại của mỗi quốc gia đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Thứ nhất, việc các quốc gia đều tập trung ứng phó với tình hình dịch bệnh COVID-19 trong nước đã tạo ra khó khăn trong việc định hướng và gắn kết trên các diễn đàn đa phương. Thứ hai, đại dịch COVID-19 làm sâu sắc hơn cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đặt ra cho các nước vừa và nhỏ, trong đó có Việt Nam, những bài toán khó trong thực thi chính sách đối ngoại nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Thứ ba, trước tình hình giãn cách xã hội, cách ly trên diện rộng, việc triển khai các hoạt động đối ngoại theo phương thức truyền thống gặp nhiều khó khăn. Khi các quốc gia trên thế giới đều lần lượt hạn chế mở cửa nhằm kiểm soát dịch bệnh, các hoạt động đối ngoại, như chuyến thăm cấp cao, hội nghị quốc tế, giao lưu gặp gỡ,... đều bị gián đoạn. Nhìn chung, đại dịch COVID-19 đã tạo ra những thách thức lớn đối với quan hệ quốc tế nói chung và việc triển khai hoạt động đối ngoại của các quốc gia nói riêng. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để các nước nâng cao tính thích ứng và phát triển nền ngoại giao mới, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong tương tác ngoại giao, cũng như truyền thông đối ngoại. Trong bối cảnh đầy thách thức đó, hai năm qua, truyền thông đối ngoại của Việt Nam đã đồng hành với công tác triển khai chính sách đối ngoại, phát huy mạnh mẽ tinh thần đổi mới, sáng tạo và linh hoạt thích ứng, góp phần quan trọng vào các thành tựu đối ngoại của đất nước. Một là, truyền thông đối ngoại đẩy mạnh thông tin về các hoạt động đối ngoại của Việt Nam trên bình diện đa phương, tận dụng cơ hội nâng cao hình ảnh đất nước. Năm 2020, Việt Nam đảm nhận các nhiệm vụ quốc tế quan trọng khi đồng thời đảm nhiệm vai trò Chủ tịch luân phiên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN, Chủ tịch Hội đồng Liên nghị viện ASEAN lần thứ 41 AIPA-41 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021. Xuyên suốt từ năm 2020 đến nay, truyền thông đối ngoại đã kịp thời cập nhật toàn diện các hoạt động đối ngoại đa phương của Việt Nam. Qua đó, truyền thông đối ngoại đã nêu bật được vai trò định hướng, gắn kết của Việt Nam khi đảm nhận trọng trách quốc tế trong bối cảnh chủ nghĩa đa phương gặp nhiều khó khăn. Với cương vị Chủ tịch luân phiên ASEAN, Việt Nam thúc đẩy hợp tác nội khối ASEAN trên cả ba trụ cột chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội; tăng cường vai trò của ASEAN trong quan hệ với các đối tác lớn; đoàn kết Cộng đồng ASEAN AC ứng phó hiệu quả với dịch bệnh COVID-19. Chủ đề “Gắn kết và chủ động thích ứng” mà Việt Nam chọn cho Năm ASEAN 2020 trở nên rất phù hợp với tình hình thực tế và đã trở thành “thương hiệu” truyền thông của Việt Nam, cũng như AC. Trên cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam đã thể hiện hình ảnh một nước Việt Nam trách nhiệm, đề cao luật pháp quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, ổn định và phát triển trên thế giới. Trên cơ sở sáng kiến của Việt Nam, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc lần đầu tiên thông qua Tuyên bố Chủ tịch về tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc; tổ chức phiên họp về hợp tác giữa Liên hợp quốc và ASEAN. Dấu ấn lịch sử là việc Việt Nam đề xuất và thúc đẩy Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết lấy ngày 27-12 hằng năm là Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh. Nghị quyết này có số lượng nước đồng bảo trợ đạt kỷ lục 112 nước. Sự tham gia tích cực, trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam trong hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tiếp tục được tăng cường, ghi đậm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” đầy tính nhân văn sâu sắc. Có thể nói, với tần suất đưa tin liên tục, diện lan tỏa rộng khắp, truyền thông đối ngoại đã xây dựng một bức tranh toàn cảnh rất tích cực về công tác đối ngoại đa phương của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Đáng chú ý, với sự biến chuyển rất nhanh của tình hình thế giới, tính sôi động, mật độ dày đặc của các sự kiện quốc tế và đối ngoại, các cơ quan truyền thông đối ngoại chủ lực của Việt Nam đã bảo đảm tốc độ đưa tin kịp thời, đúng thời điểm, có tính thời sự đến với công chúng quốc tế. Đồng thời, nhanh chóng ứng dụng các hình thức truyền thông mới. Truyền thông đối ngoại đã sử dụng nền tảng mạng xã hội, truyền thông kỹ thuật số để cập nhật các buổi hội nghị theo thời gian thực. Đơn cử như, trang Facebook “ASEAN 2020 Việt Nam” cập nhật đầy đủ tất cả các hoạt động liên quan đến Năm ASEAN của Việt Nam, mỗi bài đăng đều có chuỗi ký tự/ký hiệu hashtag kèm với tiêu đề cụ thể về nội dung, như ASEAN 2020 VN, Gắn kết Và Chủ Động Thích Ứng, 37 ASEAN Summit, ASEAN Z45... Bằng cách sử dụng các hình thức truyền thông mới, truyền thông đối ngoại không chỉ đưa các hoạt động đối ngoại đa phương của Việt Nam tiếp cận với công chúng quốc tế nhanh hơn, kịp thời hơn, rộng rãi hơn mà còn nâng cao hình ảnh Việt Nam như một đất nước có tầm nhìn và sáng tạo trong việc sử dụng linh hoạt công nghệ số trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19. Hai là, truyền thông đối ngoại góp phần giúp Việt Nam tăng cường lòng tin, đưa quan hệ đối ngoại song phương tiếp tục đi vào chiều sâu, phát triển ổn định, bền vững. Trong năm 2020, Việt Nam kỷ niệm năm tròn, năm chẵn thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều đối tác lớn, như Trung Quốc, Cu-ba, Nga, Mỹ, Liên minh châu Âu EU... Truyền thông đối ngoại đã tích cực thông tin về tiến trình hợp tác phát triển của Việt Nam với bạn bè truyền thống, đối tác lớn. Qua đó, xây dựng hình ảnh Việt Nam là một đối tác tin cậy, bền vững của các nước, trong đó có các cường quốc trên thế giới, trong nhiều lĩnh vực, từ kinh tế - thương mại đến chính trị, quốc phòng - an ninh, giao lưu văn hóa. Việc đưa tin kịp thời, có chiều sâu về các hoạt động của nguyên thủ và lãnh đạo các nước đến Việt Nam1 đã tô đậm hình ảnh một đất nước an toàn, phòng, chống dịch bệnh COVID-19 hiệu quả và tích cực góp phần vào duy trì, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong khu vực và trên thế giới. Truyền thông đối ngoại còn góp phần thúc đẩy quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng, trong đó có Lào, Cam-pu-chia và Trung Quốc. Thông qua việc đưa tin kịp thời các hoạt động tiếp xúc, hội đàm trực tiếp và trực tuyến, điện đàm giữa các lãnh đạo cấp cao, các bộ, ngành, địa phương, các tuyến bài viết về lịch sử, tình hữu nghị, mối quan hệ giữa các dân tộc, các cơ quan truyền thông chủ lực đã tập trung xây dựng hình ảnh mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Lào được quốc tế đánh giá là “mối quan hệ mẫu mực”; quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc; mối quan hệ “vàng đã qua thử lửa” giữa Việt Nam và Cam-pu-chia. Ba là, truyền thông đối ngoại đẩy mạnh lan tỏa thông điệp đối ngoại của Việt Nam, góp phần định vị hình ảnh Việt Nam trên truyền thông quốc tế. Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp và gây nhiều khó khăn trên mọi lĩnh vực, truyền thông đối ngoại đã tập trung lan tỏa các thông điệp đối ngoại mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của bạn bè quốc tế. Thứ nhất, thông điệp về một quốc gia minh bạch, an toàn khi kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19. Trước diễn biến phức tạp và số lượng ca nhiễm ngày càng tăng trên thế giới, truyền thông đối ngoại Việt Nam đã tập trung làm rõ tính minh bạch của diễn biến dịch bệnh thông qua việc cập nhật liên tục các bản tin về tình hình ca mắc mới mỗi ngày. Bên cạnh đó, việc triển khai các chiến dịch truyền thông, như Chiến dịch 5K, Dự án âm nhạc “Ghen Cô vy”... đã lan tỏa thông điệp không chỉ tới người dân trong nước mà cả bạn bè trên khắp thế giới. Thứ hai, thông điệp về một quốc gia với tinh thần đoàn kết, nhân văn, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Đây là một trong những thông điệp ngoại giao tạo nên ấn tượng mạnh mẽ đối với bạn bè quốc tế. Với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, truyền thông đối ngoại đã góp phần thông tin kịp thời về sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Với người ngoại quốc đang sinh sống, học tập, làm việc tại Việt Nam, truyền thông tích cực cập nhật những nỗ lực vượt bậc trong việc hỗ trợ công tác điều trị cũng như bảo đảm an toàn cho các công dân nước ngoài. Bên cạnh những nỗ lực hỗ trợ về kinh tế, phác đồ điều trị, sự động viên về mặt tinh thần, tình cảm hữu nghị là những giá trị đáng trân quý hơn bao giờ hết. Thông điệp ấy đã được truyền thông đối ngoại lan tỏa mạnh mẽ như một lời nhắn nhủ đến bạn bè quốc tế rằng, Việt Nam luôn sẵn lòng hỗ trợ bất cứ ai, dù mang bất kỳ quốc tịch nào, luôn lấy con người làm gốc trong mọi chính sách. Thứ ba, thông điệp về một quốc gia với tinh thần trách nhiệm, hữu nghị với bạn bè quốc tế. Mặc dù gặp nhiều thách thức trong công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 và ổn định nền kinh tế - xã hội, Việt Nam vẫn thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm quốc tế cao. Truyền thông đối ngoại đã kịp thời đưa tin về những hành động thiết thực của Việt Nam trong việc hỗ trợ và giúp đỡ bạn bè quốc tế. Dù nguồn lực hạn chế, Việt Nam luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, “tương thân, tương ái”, sẵn sàng hỗ trợ, chia sẻ với các nước ngay từ những ngày đầu chống dịch bệnh COVID-19. Việt Nam trao khẩu trang hỗ trợ phòng, chống COVID-19 tặng một số nước châu Âu, tháng 4-2020. Ảnh Những nỗ lực đồng hành cùng mặt trận đối ngoại trong một giai đoạn đầy thách thức đã mang lại một số bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác truyền thông đối ngoại. Một là, trong bối cảnh nhiễu loạn thông tin, đa dạng nguồn thông tin, tính thông điệp cần được coi trọng. Nhìn chung, nội dung thông điệp đối ngoại được lan tỏa trong thời gian qua đã đáp ứng được nhiệm vụ triển khai chính sách đối ngoại. Trong đó, hiệu quả được đánh giá dựa trên hai khía cạnh chính 1- Thông điệp sát với thực tế, phản ánh đúng những gì đang diễn ra; điều này thu hút sự quan tâm và lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với những thông tin phát ra từ Việt Nam; 2- Nội dung thông điệp có dấu ấn, lôi cuốn, hấp dẫn về một Việt Nam nhân văn, tự chủ, tự cường, quản trị xã hội và phòng, chống dịch hiệu quả, tinh thần trách nhiệm quốc tế cao. Có thể nói, truyền thông trong bối cảnh khủng hoảng cần nhiều yếu tố để thành công và một trong số đó chính là việc xác định và truyền thông điệp phù hợp với cộng đồng quốc tế. Nhờ những thông điệp chính xác đó, chính trong thời kỳ dịch bệnh COVID-19 đầy thách thức, Việt Nam có những bước tiến vượt bậc trên hành trình chinh phục công chúng toàn cầu về một “câu chuyện Việt Nam” mới mẻ, hấp dẫn, lôi cuốn. Hai là, vấn đề quan trọng không kém là tính kịp thời, đúng lúc, đúng thời điểm trong hoạt động truyền thông. Trong bối cảnh các hoạt động ngoại giao đa phương không được tiến hành trực tiếp, lực lượng báo chí nước ngoài không được vào Việt Nam tác nghiệp, việc kịp thời cập nhật tin tức về các sự kiện đa phương quan trọng do Việt Nam chủ trì đã bảo đảm tính thời sự, thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận quốc tế. Một số đánh giá cho thấy, nỗ lực truyền tải thông tin, nhất là bằng các hình thức truyền thông mới, đã góp phần giúp các hoạt động đối ngoại trực tuyến của Việt Nam có số lượng theo dõi, quan tâm trên thế giới thậm chí cao hơn một số sự kiện tổ chức trực tiếp trước đó. Bên cạnh đó, trong bối cảnh thế giới hoang mang về tính minh bạch về thông tin dịch bệnh COVID-19, việc truyền thông đối ngoại Việt Nam cập nhật kịp thời diễn biến dịch bệnh đã gây dựng được lòng tin trong công chúng quốc tế. Việc nắm bắt được xu hướng và đưa tin nhanh chóng kịp thời của truyền thông đối ngoại đã giúp công tác đối ngoại nâng cao hiệu quả, đưa tên gọi “Việt Nam” trở thành từ khóa tìm kiếm hàng đầu “top trending” trong truyền thông quốc tế. Ba là, những nỗ lực của truyền thông đối ngoại đã góp phần lan tỏa rộng rãi hình ảnh Việt Nam, tạo được ảnh hưởng tích cực đến truyền thông và bạn bè quốc tế. Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động tác nghiệp của truyền thông, các hãng thông tấn quốc tế, truyền thông các nước hầu như chỉ tiếp cận được thông tin về Việt Nam thông qua truyền thông đối ngoại của ta. Trên cơ sở các thông điệp minh bạch, thông tin kịp thời, mang tính thời sự, lượng thông tin dồi dào, đa dạng, truyền thông quốc tế đã đánh giá đúng, đầy đủ và nhìn nhận khách quan về Việt Nam. Có thể nói, những nhìn nhận mang tính khách quan của các kênh truyền thông trên toàn cầu đã góp phần khẳng định tính hiệu quả của truyền thông đối ngoại Việt Nam trong một bối cảnh đầy thách thức. Bốn là, một trong những yếu tố góp phần giúp truyền thông đối ngoại vượt qua thách thức là nỗ lực chủ động, sáng tạo sử dụng các hình thức truyền thông mới. Có thể nói, việc ứng dụng công nghệ thông tin và nhiều giải pháp sản xuất tin bài, tác nghiệp trực tuyến hiệu quả, đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại trên internet, nhất là trên mạng xã hội đã mang đến cho truyền thông đối ngoại Việt Nam một diện mạo mới mẻ, hiện đại. Trước hết, phải kể đến xu hướng truyền thông mạng xã hội, trong đó nội dung trực tiếp live content đang có chiều hướng phát triển mạnh mẽ. Nghiên cứu về các “video” của Facebook Live, Youtube Live và Instagram Live cho thấy, số lượng giờ xem nội dung video trực tiếp tăng 65% từ năm 2019 đến năm 20202. Truyền thông đối ngoại Việt Nam đã bắt kịp xu hướng này khi linh hoạt cập nhật các cuộc họp ASEAN trên Facebook Live, vừa thể hiện được khả năng thích nghi, vừa khẳng định một đất nước đổi mới và sáng tạo trong việc sử dụng linh hoạt công nghệ số trong thời kỳ dịch bệnh COVID-19. Có thể nói, bên cạnh thông điệp, nội dung thì phương thức truyền thông là yếu tố quan trọng giúp cho thông tin đến gần hơn với công chúng. Việc sử dụng phương tiện phù hợp, hiện đại mang lại hiệu quả cao cho công tác truyền tin, góp phần đưa truyền thông đối ngoại Việt Nam hòa với dòng chảy chung của truyền thông thế giới. Các cơ quan thông tấn, báo chí trong nước và quốc tế tác nghiệp tại một sự kiện. Ảnh TTXVN Tuy nhiên, bên cạnh các nỗ lực và thành công đáng khích lệ, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận một số hạn chế. Thứ nhất, về tính thống nhất thông điệp. Truyền thông hiện nay không chỉ là phương tiện giao tiếp đơn thuần mà là phương tiện quan trọng để mỗi quốc gia khẳng định hình ảnh, thương hiệu. Do đó, những nội dung truyền tải trên các phương tiện truyền thông đối ngoại cần bám sát đường lối, chính sách đối ngoại và đặc biệt là có tính nhất quán giữa các nội dung với nhau để triển khai hiệu quả giá trị thông điệp đối ngoại cần truyền tải. Thực tiễn cho thấy, giữa các kênh truyền thông đối ngoại có lúc chưa thể hiện được sự thống nhất về nội dung thông điệp đối ngoại. Bên cạnh đó, tính thống nhất còn thể hiện ở hệ thống nhận diện trên các nền tảng truyền thông. Nghĩa là, dù ở trên nền tảng nào, thông tin truyền tải đều phải nhất quán về thông điệp, nội dung cho đến biểu tượng thiết kế đặc trưng. Điều này không những giúp thúc đẩy mức độ nhận diện cao mà còn tăng khả năng tiếp cận, tăng mức độ ảnh hưởng thông điệp đối với công chúng quốc tế. Nói cách khác, để tối ưu hóa, thông điệp phải có sự thống nhất về mặt nội dung cũng như hình thức, đặc biệt cần mang tính bản sắc để mỗi đối tượng công chúng quốc tế khi tiếp nhận thông điệp đều nhận biết được rằng đó là những thông điệp đến từ Việt Nam, là giá trị Việt Nam. Thứ hai, việc vận dụng truyền thông mới, truyền thông xã hội còn chưa phát huy tối đa hiệu quả. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 nói riêng và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Công nghiệp nói chung, hiệu ứng lan tỏa của truyền thông xã hội là rất lớn với các đặc tính, như dễ dàng tiếp nhận thông tin phản hồi, tốc độ lan truyền thông điệp nhanh chóng và xuyên biên giới, tiếp cận được số lượng lớn công chúng, tạo ra hiệu ứng lan truyền viral effect. Truyền thông đối ngoại Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc tiếp cận và triển khai truyền thông mới, tuy nhiên vẫn chưa phát huy được tối đa sức mạnh của phương thức truyền thông này. Số lượng các bài viết sử dụng đồ họa thông tin infographic, đoạn phim ngắn clip, nhất là bài viết theo hình thức báo chí với dung lượng dài long-form còn hạn chế. Bên cạnh đó, mặc dù các nền tảng mạng xã hội đã được tận dụng, tuy nhiên số lượng người tiếp cận, chia sẻ tin tức vẫn chưa cao. Một phần vì số lượng tin bài tiếng nước ngoài cập nhật chưa đều, hạn chế về số lượng ngôn ngữ, đưa tin còn rải rác và chưa có chiến lược tăng KPI - chỉ số đánh giá hiệu suất, như số lượng lượt thích một trang thông tin nào đó like fanpage, số lượng lượt bình luận hay chia sẻ tin bài... Một số cơ quan truyền thông đối ngoại đã có tài khoản mạng xã hội riêng, tuy nhiên số lượng tương tác chưa cao, số lượng người theo dõi chưa lớn và đặc biệt là chưa thu hút được số lượng lượt theo dõi của các hãng thông tấn quốc tế, lãnh đạo của các nước lớn... Thứ ba, sự phối hợp giữa các cơ quan truyền thông đối ngoại chủ lực còn chưa đồng bộ. Với việc sử dụng đa dạng hình thức từ truyền thông nhà nước cho đến truyền thông cá nhân, từ phương pháp truyền thống cho đến truyền thông kiểu mới, đa dạng thể loại từ báo chí, truyền hình cho đến phát thanh và đa dạng nền tảng, từ Facebook, Twitter cho đến Youtube thì việc phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan và các loại hình với nhau là điều đặc biệt cần thiết. Trong công tác truyền thông đối ngoại, tính phối hợp sẽ giúp cộng hưởng sức mạnh lan tỏa, nâng cao hiệu quả truyền tin, đồng thời cho thấy một bộ máy truyền thông hoạt động theo một chiến lược quốc gia tổng thể. Có thể nói, trong bối cảnh đầy khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19, công tác truyền thông đối ngoại đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, nhanh chóng thích ứng, chủ động đổi mới, sáng tạo, góp phần quan trọng vào các thành tựu đối ngoại của đất nước. Tuy nhiên, trong thời gian tới, thách thức đối với truyền thông đối ngoại còn rất lớn. Tốc độ hiện đại hóa, chuyển đổi số trong truyền thông quốc tế ngày càng cao. Trong tình hình mới, nhiệm vụ mà Đại hội XIII của Đảng đặt ra là phải “đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại”3, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đối ngoại. Trên nền tảng những thành tựu đã đạt được, nhìn nhận sâu sắc các hạn chế, yếu kém, công tác truyền thông đối ngoại trong thời gian tới cần tiếp tục đổi mới tư duy, sáng tạo và chủ động thích ứng, bám sát nhiệm vụ chính trị, nhất là việc quảng bá cơ đồ, tiềm năng của đất nước, góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của Việt Nam. Trong đó, cần tích cực khai thác thế mạnh của các nền tảng truyền thông mới trong hoạt động truyền thông đối ngoại; sáng tạo trong sản xuất sản phẩm truyền thông đối ngoại; tăng cường tính phối hợp trong hoạch định chủ trương, cũng như triển khai hoạt động cụ thể về truyền thông đối ngoại. Hiện nay, lực lượng truyền thông đối ngoại của Việt Nam ngày càng đông đảo và đa dạng, từ các cơ quan nhà nước các cấp đến các cơ quan truyền thông chủ lực, các tổ chức truyền thông... Để tối ưu hóa và nâng cao hiệu quả truyền thông, cần tăng cường sự chỉ đạo thống nhất, phối hợp chặt chẽ các lực lượng truyền thông đối ngoại. Có thể khẳng định, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, đồng thời xu thế toàn cầu hóa và chuyển đổi số đang có những tác động sâu rộng đối với mỗi quốc gia, việc đổi mới công tác truyền thông đối ngoại là yêu cầu khách quan, cần thiết nhằm góp phần xứng đáng vào quá trình triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng, phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./. Lê Hải Binh - Phạm Mỹ Lệ Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương - Khoa Truyền thông và Văn hóa đối ngoại, Học viện Ngoại giao Theo Tạp chí Cộng sản Tâm Trang st - Trong đó có sự kiện Thủ tướng Nhật Bản Xư-ga Y-ô-si-hi-đê Suga Yoshihide chọn Việt Nam là điểm đến đầu tiên tháng 10-2020 trong chuyến công du nước ngoài sau một tháng nhậm chức tháng 9-2020 Xem Anjali Lai, Elizabeth Velasquez “The Data digest US Consumers say Twitter and Facebook are equally entertaining, yet Twitter is more informative”, truy cập ngày 24-4-2021 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 164 - 165
truyền thông đối ngoại